|
TÒA ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2024 V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Đoàn Văn Cương.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện VKS nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh S – Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/7/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/9/2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1989 - (vắng mặt).
+ Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1983 - (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đìnhghi ngày 11/7/2024 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Chị kết hôn với anh Trần Văn N vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 11/12/2012. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh N chung sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, phía anh N chơi bời lô đề nợ tiền nhiều, chị khuyên bảo mà không được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã
trầm trọng và kéo dài, không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn anh Trần Văn N.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Bích T1, sinh ngày 29/7/2017. Hiện con chung đang ở với cả hai vợ chồng chị, con khỏe mạnh, phát triển bình thường. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Vợ chồng chị tự thỏa thuận về tài sản nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay chị T có đơn xin vắng mặt, có quan điểm vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên và nhất trí mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung như quan điểm của anh N mức 3.000.000 đồng/ tháng.
- Bị đơn anh Trần Văn N: Tại bản tự khai ghi ngày 29/7/2024 anh Trần Văn N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống của vợ chồng như chị T trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tháng 2/2024 thì anh có nợ tiền, hai bên gia đình có trả nợ hộ anh thì hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do chị T không chấp nhận được việc anh nợ tiền. Hiện hai vợ chồng chị vẫn đang ở với nhau, nguyên nhân dẫn đến chị T làm đơn xin ly hôn chỉ là vì lý do kinh tế còn hai bên không có mâu thuẫn gì. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh vẫn còn yêu thương vợ, con chung còn rất nhỏ, anh không muốn việc ly hôn của vợ chồng anh ảnh hưởng đến sự phát triển của con, chị T xin ly hôn anh không đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày. Hiện con chung đang ở cùng với vợ chồng, con khỏe mạnh, phát triển bình thường. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng xin được nuôi con chung, anh không cần chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Vợ chồng anh tự thỏa thuận được về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, anh Trần Văn N có đơn vắng mặt. Có quan điểm giữ nguyên các yêu cầu trên, nếu HĐXX xử giao con chung của vợ chồng cho chị T nuôi dưỡng thì anh nhất trí đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm
phán xác định đúng mối quan hệ tranh chấp. Việc giao gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho VKS nghiên cứu đầy đủ, đúng quy định; HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bị đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, chị Trần Thị T và anh Trần Văn N đều có đơn xin vắng mặt; chị Trần Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Trần Văn N, xin được nuôi con chung và yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án:
+ Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, X:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Trần Văn N.
+ Con chung: Giao cho chị T nuôi con chung. Anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh N được quyền thăm nom chăm sóc con chung.
+ Án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh N phải chịu 300.000 đồng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
- Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và tiền tố tụng: Xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, các đương sự có địa chỉ cư trú tại huyện L. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Do các bên kết hôn với nhau đã đủ điều kiện kết hôn và đã có giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp, do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.
[4]Về nội dung vụ kiện:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trần Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng thường bất đồng trong quan điểm kinh tế, phía anh N thừa nhận bản thân anh có nợ tiền khiến cả hai bên gia đình phải đứng ra trả nợ hộ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn và hiện tại cả hai vợ chồng anh vẫn đang sống chung cùng nhà nên việc chị T xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên phía chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng hàn gắn nên chị thiết tha đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mặc dù anh N không đồng ý ly hôn nhưng kể từ thời điểm Tòa án giải quyết vụ án cho đến nay, anh N vẫn không hàn gắn được tình cảm với chị T, hiện tại chị T vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh N nên mục đích của hôn nhân không còn đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Trần Thị T là phù hợp với các Điều 51; Điều 56; Điều 58 luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Vợ chồng chị T, anh N có một con chung là Trần Bích T1, sinh ngày 29/7/2017. Hiện con phát triển bình thường và đang do vợ chồng chăm sóc nuôi dưỡng. Nguyện vọng của cả chị T và anh N đều xin được nuôi con chung và đều cung cấp bảng cấp phát tiền lương của hai bên, phía chị T làm cán bộ Trung tâm Y tế huyện L; anh N là bộ đội thuộc Ban chỉ huy Quân sự huyện L. Cả hai anh chị đều có mức lương ổn định và mức lương của anh N cao hơn lương của chị T. Xét về các điều kiện cần và đủ thì cả anh N và chị T đều có đủ, tuy nhiên cháu Trần Bích T1 là con gái cần được người mẹ chăm sóc dạy bảo sẽ tốt hơn và bản thân cháu T1 cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Do vậy cần giao cháu T1 cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T và anh N đều thỏa thuận mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung, theo đó anh N có trách nhiệm đóng góp mỗi tháng với số tiền là 3.000.000 đồng cho chị T nuôi con, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, xét là phù hợp Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình.
[4.3] Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị T thừa nhận vợ chồng đã tự thỏa thuận được về tài sản nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.
[5] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Trần Văn N đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX xử vắng mặt đương sự, căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Về Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và Đ a Khoản 5, điểm d khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Anh N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a Khoản 5, điểm d khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Trần Văn N.
[2] Con chung: Xử giao cho chị Trần Thị T tiếp tục nuôi con chung là Trần Bích T1, sinh ngày 29/7/2017. Anh Trần Văn N có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn anh Trần Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[3] Án phí: Chị Trần Thị T phải phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007714 ngày 25/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Anh Trần Văn N phải chịu 300.000đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Các đương sự đều vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án vắng mặt hoặc được niêm yết công khai bản án./.
|
Nơi nhận: - Toà án tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Thi hành án; - UBND xã Tân Hưng. - Các đương sự. - Lưu. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hằng |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Thắng, anh Ngọc - LH
