Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 24-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình
  • Ông Nguyễn Văn Hoà
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Mai Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1982, tại tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T1 (đã chết) và bà Đặng Thị L; Vợ đã ly hôn và có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 669 do Công an quận H lập ngày 25/12/2023 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về nhân thân: - Ngày 29/12/2011, Công an phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Ngày 04/7/2018, Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ”.

- Ngày 19/02/2020 Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Khánh N, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số A L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2023, Nguyễn Đức T nhận được điện thoại từ 01 người đàn ông sử dụng số 0568256333 liên hệ hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”. T đồng ý bán và thỏa thuận giao ma túy tại ngõ H, quận H, TP Hà Nội. Sau đó T đi đến khu vực bến xe G, gặp và mua của 01 người ông không quen biết 800.000 đồng tiền ma túy “đá”. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, T điều khiển xe máy Honda Wave Blade, BKS: 29B1 - 97185 chở bạn gái là Lê Khánh N ngồi phía sau đi chơi. Khi đi đến địa điểm hẹn giao ma túy là trước cửa số A ngõ H thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, do lo sợ T thả từ tay trái xuống đất 01 túi nilon màu trắng, kích thước 2x3cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Sau đó, T đã tự giác nhặt lên và khai nhận là ma túy đá đang mang đi bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị bắt. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở giải quyết. Truyền chỉ rủ N đi ăn uống, không nói với N về việc cất giấu ma túy và hẹn giao ma túy cho khách.

Ngoài ra, Công an còn thu giữ của T: 01 điện thoại di động Iphone 12 màu xanh, IMEI 1: 351001682269181; IMEI 2: 351001682296119, bên trong lặp thẻ sim số 0911689339; 01 xe mô tô Honda Wave Blade màu đen, BKS 29B-97185, số khung RLHJA3642KY008358, số máy JA36E-0744438. Thu giữ của Lê Khánh N: 01 điện thoại di động hãng Realme C25Y màu xám, số IMEI 1: 865496050162613; IMEI 2: 865496051062605, bên trong lặp sim số 03695941944.

Tại Bản Kết luận giám định số 8512/KL-KTHS ngày 27/12/2023 Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,465gam”.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 30 đến 34 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2023. . Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định kèm theo vỏ, bao gói niêm phong, các đồ vật đã thu giữ gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,465 gam. PC09 thu mẫu giám định là 0,061 gam còn lại 0,404 gam. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 màu xanh lắp kèm sim đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, tại trước cửa số A ngõ H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội tổ công tác Công an phường H bắt quả tang Nguyễn Đức T có hành vi cất giấu 0,465 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã đủ cấu thành về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tại phiên toà anh trai của bị cáo xuất trình Huân chương kháng chiến hạng ba của bố đẻ của bị cáo là ông Tô Đức T2, quyết định thay đổi cải chính hộ tịch xác định lại dân tộc xác định lại giới tính của ông Tô Đức T2 sang thành Nguyễn Đức T1 là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
  3. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xoá án tích về tội “Trộm cắp tài sản”; 02 tiền sự đã được xoá về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  4. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
  5. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính và hình phạt bổ sung là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

  1. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự lý như sau:
    • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định kèm theo vỏ, bao gói niêm phong, các đồ vật đã thu giữ gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,465 gam. PC09 thu mẫu giám định là 0,061 gam còn lại 0,404 gam.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 màu xanh lắp sim kèm theo đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

  1. Về các vấn đề khác: - Đối với đối tượng Lê Khánh N, sinh năm 1983; HKTT: Số A ngõ L, phường V, quận Đ, TP Hà Nội là người đi cùng T, N khai: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, T rủ N đi ăn uống và chở N bằng xe máy. N không biết và không liên quan đến việc T cất giấu ma túy trong người để mua bán trái phép. Cơ hành kiểm tra người và điện thoại của N đều không phát hiện gì liên quan điều tra tiến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý và đã trao trả chiếc quan đến điện thoại di động hãng Realme C25Y màu xám, số IMEI 1: 865496050162613; IMEI 2: 865496051062605, bên trong lắp sim điện thoại cho N là có căn cứ, đúng pháp luật.
    • - Đối với đối tượng hỏi mua ma túy của T sử dụng số điện thoại 0568.256.xxx, T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ điện tín số điện thoại trên, xác định chủ thuê bao là anh Bùi Quang H, sinh năm 1999; HKTT: Số B ngõ H L, phường N, quận H, TP Hà Nội. Tại Cơ quan điều tra, anh H khai: Không sử dụng số điện thoại trên, không quen biết ai là Nguyễn Đức T, không sử dụng ma túy và không hỏi mua ma túy. Do không có căn cứ xác định Bùi Quang H là người hỏi mua túy của T nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng pháp luật.
    • - Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T, T khai không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể, việc mua bán diễn ra trực tiếp. Cơ quan điều tra đã dẫn giải T đến nơi mua ma túy nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý.
    • - Đối với chiếc xe máy Honda Wave Blade màu đen, BKS 29B1 - 97185 thu của Nguyễn Đức T, qua xác minh xác định chủ sở hữu là ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1956; Nơi cư trú: E Đ, phường C, quận B, TP Hà Nội. Ông Q quen biết Truyền thông qua mối quan hệ xã hội. Ngày 15/12/2023, ông Q cho T mượn xe máy với mục đích làm xe ôm kiếm thêm thu nhập. Ông Q không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho ông Q là đúng pháp luật. Ông Q nhận lại tài sản và không có yêu cầu khác về dân sự.
  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2023.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
    • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định kèm theo vỏ, bao gói niêm phong không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, có đóng dấu giáp lai của Công an phường H, có chữ kí xác nhận của Nguyễn Đức T, giám định viên Nguyễn Thị T3, cán bộ Công an phường N, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thành C, người chứng kiến Trương Quốc K, Bên trong có: 01 túi ni lông màu trắng, kích thước 2x3cm, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 0,465 gam, PC09 thu mẫu giám định là 0,061 gam, còn lại là 0,404 gam thu giữ của Nguyễn Đức T.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
      • + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Iphone, màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng (theo biên bản tạm giữ của Công an phường H ngày 20/12/2023: điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh, Imei 1: 351001682269181; imei 2: 351001682296119) thu giữ của Nguyễn Đức T. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được, không kiểm tra được tình trạng, đối chiếu được số imei.
      • + 01 (một) sim điện thoại đã cũ, chất lượng, hiện trạng không rõ.

(Hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 9/4/2024)

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm (3 bản);
  • - Công an quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Chi cục THA quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Sở Tư pháp (1 bản);
  • - Bị cáo (1 bản);
  • - Người liên quan (1 bản);
  • - Trại tạm giam (1 bản);
  • - Lưu hồ sơ - VP(2 bản).

(Thông báo cho chính quyền

địa phương nơi bị cáo cư trú).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger