Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 13-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phùng Thị Hoài Phương

2. Ông Nguyễn Xuân Hiệp

3. Ông Nguyễn Đình Long

Thư ký phiên toà: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí H, sinh năm: 1993 tại : Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 2 P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q (Đã chết) và bà Lê Thị K; vợ: Trần Ngọc Kiều A, sinh năm: 1992; con: có 01 người con sinh năm: 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31-5-2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh L. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Nguyễn Bảo D - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1968; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: A N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Mai Thị H1, sinh năm: 1966 (Vợ của bị hại); nơi cư trú: Số A đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1975; nơi cư trú: 2 P, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
  2. Bà Lê Thị K, sinh năm: 1975; nơi cư trú: 2 P, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  3. Ông Quan Phú N, sinh năm: 1977; nơi cư trú: số A đường T, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  4. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 2000; số A đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Lê Thành T2, sinh năm: 1981; nơi cư trú: số A B đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1966; nơi cư trú: số A H đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  3. Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm: 2002; nơi cư trú: số A H đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đây cùng làm chung ở Công ty giao hàng tiết kiệm tại Đ nên Nguyễn Chí H và Nguyễn Minh Đ quen biết nhau. Vào cuối năm 2023 thì H và Đ xảy ra mâu thuẫn với nhau. H gọi điện thoại hẹn gặp trực tiếp Đ nhằm giải quyết mâu thuẫn, do Đ sợ bị H đánh nên không gặp. Khoảng 14 giờ ngày 30-5-2024, H mang theo 01 con dao (Có đặc điểm: dạng dao chặt, cán và lưỡi bằng kim loại dài 49cm, màu trắng sáng, lưỡi dao có một cạnh sắc, mũi dao bằng, được bọc trong bọc giấy; dao này H mua trên mạng xã hội (S) vào khoảng tháng 4/2024 với giá hơn 200.000 đồng) và điều khiển xe mô tô mang BKS: 49B1 - 806.28 đến nhà của Nguyễn Minh Đ tại địa chỉ: số nhà A đường N, Phường D, thành phố Đ để tìm Đ giải quyết mâu thuẫn. Khi đến gần nhà Đ thì H để xe máy bên ngoài đường đầu hẻm và đi bộ vào trước khu vực sân nhà của Đ. Thấy H đến tìm Đ thì mẹ của Đ là bà Mai Thị H1 đi ra gặp H. Bà H1 nói với H: “Đ không có nhà” và bà H1 yêu cầu H đừng đến tìm Đ nữa. Nghe bà H1 nói vậy thì H đi ra lấy xe mô tô rồi chạy về.

Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày thì H bỏ dao vào bên trong áo khoác đang mặc rồi sử dụng xe mô tô trên quay lại nhà Đ để giải quyết mâu thuẫn. H để xe máy ngoài đầu hẻm và đi bộ vào phía nhà Đ. H đứng bên ngoài trước nhà Đ nhìn vào bên trong nhà Đ. Không thấy Đ thì H đi bộ lại phía trụ điện đối diện với cổng chính nhà của Đ rồi ngồi đợi Đ. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, khi không thấy Đ nên H đi bộ ra ngoài để lấy xe máy đi về. Đi ra gần tới vị trí để xe mô tô thì H quay nhìn lại thì thấy ông Nguyễn Ngọc T (Cha đẻ của Đ) đang đi ra nhìn H. H ngồi gần khu vực để xe mô tô khoảng 5 phút sau, do nghĩ ông T chửi mình, nên H lấy con dao đang để bên trong áo khoác ra. H rút dao ra khỏi vỏ rồi cầm dao đi bộ vào phía trong nhà để tìm ông T. Khi H cầm dao đi lại đối diện với nhà ông T thấy ông T mở cửa bên hông trái nhà (Cửa vào nhà bếp) đi ra. H cầm dao đi nhanh đến vị trí ông T đứng; khi cách ông T khoảng gần 01 mét thì H cầm dao trên tay phải đưa lên trên rồi chém 01 nhát vào vùng đầu bên trái của ông T, H tiếp tục giơ dao lên chém nhát thứ hai theo chiều hướng giống như chém nhát dao đầu tiên xuống vùng đầu của ông T thì ông T đưa tay trái lên đỡ, nên dao H chém trúng phần bàn tay trái của ông T (Tạo thành 01 vết thương cắt da cơ, xương bàn ngón, xương cổ tay, bờ mép sắc gọn, chảy nhiều máu, hướng từ cạnh ngoài mu bàn tay trái vào trong lòng bàn tay trái, cắt đứt gần hoàn toàn da cơ, xương cổ tay trái). Ông T la hét nên H điều khiển xe mô tô và cầm theo dao bỏ đi. Đ ở trong nhà nghe thấy ông T la “Ối giời ơi, nó chém tôi rồi, đứt lìa bàn tay rồi” nên đi ra ngoài thấy ông T đang dùng một tay ôm đầu, đầu chảy nhiều máu, tay còn lại bị đứt lìa một phần bàn tay. Đ lấy khăn bó tay của ông T lại, đỡ ông T ngồi xuống góc cửa bếp rồi đưa ông T lên Bệnh viện đa khoa tỉnh L, sau khi cấp cứu được khoảng 30 phút nhưng do vết thương quá nặng nên ông T đã chết. Khi đi khỏi nhà Đ, H điều khiển xe mô tô mang biển số 49B1- 806.28 đến nhà chú họ là ông Quan Phú N, sinh năm: 1977; nơi cư trú: số A T, Tổ F Thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng gửi xe mô tô mang biển số 49B1- 806.28, H để con dao chém ông T ở trong cốp xe; H nói ông N cho mượn 2.000.000 đồng để đi Thành Phố Hồ Chí Minh thăm em họ bị tai nạn giao thông nên ông N cho H mượn. Sau đó, H đón xe khách Phương T4 đi Thành Phố Hồ Chí Minh, khi đến địa phận huyện D thì bị lực lượng Công an đưa về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. (BL: 201- 231; 232- 254).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 111/KLGĐTT-PC09 ngày 31-7-2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự tỉnh L kết luận: ông Nguyễn Ngọc T nguyên nhân chết do: Mất máu cấp. (BL: 102- 103).

Tại kết luận giám định ADN số: 3.127-2024/KLGÐADN-TTPY ngày 02-07-2024 của trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H kết luận: ADN của Nguyễn Ngọc T có hiện diện trong mẫu dấu vết màu nâu đỏ trên lưỡi dao; Trong mẫu dấu vết trên cán dao có hiện diện ADN người nam giới nhưng không đủ làm cơ sở so sánh đối chiếu với ADN của Nguyễn Ngọc T. (BL: 119- 120).

Tại Bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số: 176/KLCCHS-PC09 ngày 05-9-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh L kết luận: Trên cơ thể nạn nhân Nguyễn Ngọc T có 01 vết thương ở vùng đầu và 01 vết thương ở vùng bàn tay trái. Vết thương trên hình thành do hung khí có đặc điểm sắc, có một lưỡi cắt gây ra. Con dao gửi giám định có thể gây ra các vết thương trên cơ thể của Nguyễn Ngọc T. (BL:143).

Tại Bản kết luận giám định số: 773/KL-KTHS ngày 21-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong (01) File Video Clip gửi giám định.

Diễn biến hành động, đặc điểm nhận dạng, đặc điểm hung khí của đối tượng có liên quan đến vụ án xuất hiện trong 1 file video clip gửi giám định được mô tả trong bản phụ lục số 773/PL- KTHS. (BL:128- 138).

Tang vật thu giữ:

Thu giữ của Nguyễn Chí H 01 Căn cước công dân số: [...] mang tên Nguyễn Chí H; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AX335938 mang tên Nguyễn Chí H; 01 Điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu xanh (Máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); Số tiền mặt 1.739.000 đồng. (BL: 147).

Thu giữ của Quan Phú N: 01 dao tự chế bằng kim loại; 01 xe máy Yamaha Sirius màu đỏ, biển số 49B1- 806.28; 01 mũ bảo hiểm màu vàng đen; 01 con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 49cm; 01 áo khoác màu xanh đen. (BL: 148).

Về Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại: ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1968; nơi cư trú: số A N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi vụ án xảy ra, quá trình điều tra, gia đình bị cáo Nguyễn Chí H đã bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền: 100.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 62/Ctr-VKSLĐ-P1 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Chí H thừa nhận diễn biến vụ việc đúng như Cáo trạng và không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản Cáo trạng.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Giết người”

Áp dụng n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H từ 16 đến 18 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Chí H và đại diện bị hại Mai Thị H1; buộc bị cáo Nguyễn Chí H có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện bị hại Mai Thị H1 thêm số tiền 300.000.000 đồng.

Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng; án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Chí H và Luật sư Huỳnh Nguyễn Bảo D bào chữa cho bị cáo tranh luận nội dung thống nhất như sau:

Đồng ý và thống nhất đối với cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội “Giết người”. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã bồi thường khắc phục được một phần hậu quả; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo, qua đó xem xét về nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo để áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phần luận tội.

Lời nói sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình người bị hại; bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:

Do có mâu thuẫn trong sinh hoạt cá nhân thường nhật với Nguyễn Minh Đ trong quá trình làm việc chung. Ngày 30-5-2024, Nguyễn Chí H mang theo 01 con dao đến nhà của Đ tại địa chỉ số A đường N, Phường D, thành phố Đ nhằm mục đích đánh Đ để giải quyết mâu thuẫn nhưng không gặp, thấy ông Nguyễn Ngọc T (Cha đẻ của Đ) đi ra ngoài sân, nghĩ ông T bênh vực cho Đ nên H cầm dao chém ông T một cái trúng vào đầu và một cái trúng vào tay. Hậu quả ông T chết sau khi được đưa đi cấp cứu. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 111/KLGĐTT-PC09 ngày 31-07-2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự tỉnh L kết luận: ông Nguyễn Ngọc T nguyên nhân chết do: Mất máu cấp.

Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rất rõ tính mạng con người là quan trọng nhất, được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống với con của bị hại là anh Nguyễn Minh Đ, không mâu thuẫn gì đối với bị hại ông Nguyễn Ngọc T nhưng bị cáo tự cho rằng ông T có hành vi bênh con, chửi mắng mình nên đã sử dụng dao để chém ông T 02 nhát và tước đoạt đi mạng sống ông T là thể hiện sự côn đồ, hung hãn. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Tính chất mức độ phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể đặc biệt quan trọng, được pháp luật hình sự bảo vệ, bất khả xâm phạm đó chính là tính mạng, quyền được sống của con người; quyền cơ bản, thiêng liêng và quý giá nhất; gây tâm lý hoang mang, lo sợ và bất bình trong xã hội. Do đó, cần nghiêm trị, áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian dài nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 100.000.000 đồng; tại phiên tòa hôm nay, đại diện bị hại bà Mai Thị H1 tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 300.000.000 đồng thì bị cáo đồng ý. Xét thỏa thuận này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được; vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành đã được cơ quan điều tra thu giữ như sau:

  • - 01 (Một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 49cm để trong túi niêm phong có mã số PS1: 2100815 (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).
  • - 01 (Một) bọc giấy ở mặt ngoài có in chữ advanced melon, có hình con dao được để trong túi niêm phong có mã số: 2100846 (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).
  • - Một số sợi tóc màu đen được để trong túi niêm phong có mã số: 2101610 (còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong)

Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng có giá trị liên quan đến hành vi phạm tội đã được cơ quan điều tra thu giữ như sau:

  • - 01 (Một) điện thoại hiệu Sam Sung, màu xanh được niêm phong trong phong bì màu trắng, tại vị trí mép mở của phong bì có dán giấy niêm phong, có chữ ký, họ tên: “Lê Văn S, Lê Thị K” (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.739.000 đồng đã thu giữ của bị cáo nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành bản án.

Đối với các vật chứng khác, do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trong giai đoạn điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không đề cập.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội phạm và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 20 (Hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 31-5-2024)

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 591 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Chí H và đại diện bị hại bà Mai Thị H1. Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện bị hại Mai Thị H1 thêm số tiền 300.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1.Tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 (Một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 49cm để trong túi niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS1: 2100815 (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).
  • - 01 (Một) bọc giấy ở mặt ngoài có in chữ advanced melon, có hình con dao được để trong túi niêm phong có mã số: 2100846 (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).
  • - Một số sợi tóc màu đen được để trong túi niêm phong có mã số: 2101610 (còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong).

3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

  • - 01 (Một) điện thoại hiệu Sam Sung, màu xanh được niêm phong trong phong bì màu trắng, tại vị trí mép mở của phong bì có dán giấy niêm phong, có chữ ký, họ tên: “Lê Văn S, Lê Thị K” (Còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong bì niêm phong)

(Các vật chứng nêu trên, số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng được ghi tại Quyết định chuyển vật chứng số: 53/QĐ-VKSLĐ-P2 ngày 28-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-10-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).

3.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí H số tiền 1.739.000 đồng theo Biên lai thu số 0003982 ngày 05-11-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Tạm giữ bảo đảm nghĩa vụ thi hành án)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện bị hại; người liên quan có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 – TANDTC (01);
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM (01);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV - 06 Công an Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PA09 - CA tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Phòng KTNV&THA (04);
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01); Trại tạm giam (01);
  • - Hồ sơ THAHS (03);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01); Án văn (01); VP (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị kết án theo cáo trạng; xử phạt 20 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger