TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/ HSST
Ngày 24 - 09 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Ông Cao Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh P - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông: Nguyễn Xuân L (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); Gia đình có 04 anh em, B là thứ 2; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1981; con: có 02, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/05/2024, bị tạm giam từ ngày 02/06/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 24/5/2024, Nguyễn Văn B một mình đi xe khách đi từ thành phố Hà Nội về tỉnh Nam Định. Trên đường về B gọi điện thoại nhờ anh Trần Văn H1, sinh năm 1962, trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (là anh họ của B) khoảng 9 giờ đến khu vực chân cầu L thuộc địa phận xã V, huyện T, tỉnh Nam Định đón chở B về nhà, anh H1 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi xe khách về tới khu vực cầu L, huyện T, tỉnh Nam Định thì B xuống xe. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên B đi bộ theo đường trục xã V, huyện T tìm mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đi vào một đoạn khoảng 300m, B quan sát thấy có một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở ven đường. Nghĩ người này có bán ma tuý nên B lại gần hỏi và mua được của người đàn ông này 01 (một) gói Heroine với giá 200.000 đồng rồi cầm ở tay phải quay lại khu vực cầu L chờ H1 đến đón. Cùng lúc này, H1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 14K4-9222 đi đến chân cầu L tìm nhưng không thấy B. H1 gọi điện thì được B hướng dẫn đi vào trong đường trục xã V đón B rồi đi ra phía đường quốc lộ 21 để đi về nhà. Khi H1 điều khiển xe mô tô chở B ra đến gần đường Q thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: B tự giao nộp 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ đang cầm ở tay phải, mở kiểm tra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. B khai nhận đây là gói Heroine của B mua cất giấu để sử dụng cho bản thân, được niêm phong ký hiệu là M. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 14K4-9222, 02 điện thoại di động đã cũ.
Bản kết luận giám định số: 982/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của phòng K Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,263 gam.
Bản kết luận giám định số: 1280/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Jupiter, sơn màu xanh, gắn biển số 14K4-9222 có số khung, số máy đã bị tẩy xoá đóng lại. Không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ của nơi sản xuất.
* Xử lý vật chứng:
Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao gói mẫu M hoàn lại sau giám định: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện T chờ xử lý.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA kiểu dáng giống xe Jupiter, sơn màu xanh, gắn biển số 14K4-9222 của H1. H1 không sử dụng vào mục đích phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra H1 không xuất trình được các giấy tờ hợp lệ, biển số không đúng của xe, không xác định được nguồn gốc hợp pháp phương tiện nên chuyển Chi cục THADS huyện chờ xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động màu đen, trên mặt điện thoại có chữ 4G VOLTE và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu trắng là phương tiện liên lạc của Nguyễn Văn B, Trần Văn H1. Hoan, B không sử dụng để thực hiện tội phạm. Cơ quan điều tra đã trả lại chị Phạm Thị H là vợ B (theo đề nghị của B).
Đối với chiếc biển số 14K4-9222 được gắn trên xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA kiểu dáng giống xe Jupiter, sơn màu xanh. Kết quả xác minh xác định chiếc biển số nêu trên là của ông Đặng Viết Q, sinh năm 1982, trú tại T, N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Q.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 61/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 08 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn B từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/05/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106; BLTTHS. Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA kiểu dáng giống xe Jupiter, sơn màu xanh, gắn biển số 14K4-9222 của H1. Vì trong quá trình điều tra H1 không xuất trình được các giấy tờ hợp lệ, biển số không đúng của xe, không xác định được nguồn gốc hợp pháp của xe; Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine thu của Nguyễn Văn B.
Bị cáo Nguyễn Văn B đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/5/2024 Nguyễn Văn B có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0, 263 gam ma túy Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được chính quyền địa phương xác nhận, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, sơn màu xanh, gắn biển số 14K4-9222 của H1 vì các giấy tờ không hợp lệ, biển số không đúng của xe, không xác định được nguồn gốc hợp pháp của xe. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra
[6] Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/05/2024.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter sơn màu xanh, xe không có biển số xe, xe không có giấy tờ xe, nhiều bộ phận của xe đã hư hỏng và han ghỉ, xe không có gương và tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Nguyễn Văn B có trong bì thư số 982/GĐKTHS của phòng K Công an tỉnh N (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 72/THA ngày 12 tháng 09 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thu |
Bản án số 69/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 69/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tộ tàng trữ trái phép chất ma túy
