|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HSST
Ngày: 05-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Văn Đoàn. |
| Ông Đặng Văn Vững. |
– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST – HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thanh T, sinh ngày: 20/12/1988.
Nơi thường trú: C3/38 Ấp C, xã B, huyện B, Tp .; Nơi ở hiện tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bản thân có vợ tên Vương Thị Nguyệt T3, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án - tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Vương Thị Nguyệt T3, sinh ngày: 01/12/1987.
Nơi thường trú: không có nơi thường trú; Nơi ở hiện tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Việt T4 (đã chết) và bà Dương Thị T5; Bản thân có chồng tên Phan Thanh T, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 0001182/QĐ-XPHC, ngày 04/5/2013 của Công an xã B, huyện B, Tp ., xử phạt 750.000 đồng về hành vi Đánh nhau với người khác; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Phù Minh N, sinh ngày: 24/11/1991.
Nơi thường trú: 215C/9 Ấp C, xã A, huyện B, Tp .; Nghề nghiệp: thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phù Văn T6 và bà Trương Kim T7; Bản thân có vợ tên Trương Thị Hồng G (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2018; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 241/QĐ-TA, ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp., áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng. Chấp hành xong ngày 09/6/2019; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cao Ngọc V, sinh năm: 1963 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người chứng kiến:
- Nguyễn Gia B, sinh năm: 2003 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Nguyễn Văn P, sinh năm: 1996 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Tạ Quốc T8, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và có tiền để tiêu xài cá nhân nên Phan Thanh T và vợ Vương Thị Nguyệt T3 thống nhất mua ma túy mang về nhà trọ tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An chia nhỏ bán lại cho các con nghiện thu lợi. Vào khoảng 10 giờ ngày 06/3/2024 T liên lạc qua mạng xã hội Facebook với 01 nam thanh niên tên T9 (không rõ lai lịch) hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy đá. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có 01 nam thanh niên giao hàng (shipper) liên lạc giao ma túy cho T. Sau khi nhận ma túy, T chia ra thành 36 gói nhỏ bỏ vào 02 hộp nhựa màu đỏ, có chữ vàng bạc đá quý, gồm: 01 hộp chứa 20 gói ma túy T cất giấu vào tủ quần áo và 01 hộp còn lại chứa 16 gói ma túy T giấu trong người. Khoảng 02 giờ, ngày 07/3/2024 Phù Minh N liên lạc qua điện thoại di động với T hỏi mua 01 gói ma túy đá, T nhắn N đến gần nhà trọ của T nhận ma túy. Đến khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày, T bán 01 gói ma túy cho N với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy, N điều khiển xe môtô, biển số: 58S3 - 1108 đến khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện C, thì bị Công an xã L, huyện C kiểm tra hành chính, phát hiện N tàng trữ ma túy, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N. Sau khi bán 01 gói ma túy cho N, T đi vào nhà trọ ngủ. Trong lúc đang ngủ thì hộp nhựa chứa ma túy rơi ra, T3 thấy vậy nên lấy bỏ vào túi quần đang mặc trên người cất giấu. Sáng ngày 07/3/2024 T3 bán 01 gói ma túy cho 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng. Qua lời khai của N, vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 07/3/2024 Cơ quan công an tiến hành khám xét khẩn cấp nhà trọ của T và T3 thu giữ: 01 (một) hộp nhựa màu đỏ có dòng chữ vàng bạc đá quý, bên trong có 20 gói nylon có rãnh khép viền đỏ, chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 (một) hộp nhựa màu đỏ có dòng chữ vàng bạc đá quý, bên trong có 11 gói nylon có rãnh khép viền đỏ và 03 (ba) gói nylon có rãnh khép viền xanh chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 13 (mười ba) nỏ thủy tinh màu trắng chưa qua sử dụng, 01 (một) nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng (bị bể một phần) và 01 nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng, ngoài ra còn thu giữ 16 (mười sáu) ống hút nhựa nhiều màu; 01 (một) bật lửa màu trắng; 01 (một) cây kéo kim loại màu trắng; 02 (hai) đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo một đầu; 01 (một) bình thủy tinh, trên nắp có ghim 01 ống hút nhựa màu vàng; 01 (một) túi xách màu xám, có quai xách, kích thước 25x30cm; số tiền 400.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, sim số 0938247936.
Qua làm việc, T khai nhận vào ngày 04/3/2024 T đặt mua trên mạng xã hội 15 nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) với giá 15.000 đồng/01 nỏ. Sau khi mua nỏ về, T làm vỡ hết 01 cái, sử dụng 01 cái, 13 nỏ còn lại T cất giấu tại nhà trọ, mục đích để sử dụng. Qua điều tra, T còn khai nhận ngày 01/3/2024 tại gần nơi ở của mình, T bán cho Phù Minh N 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Quá trình bán ma túy, T và T3 thu lợi 150.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2137 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của bị cáo N).
Tại Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 1. Tinh thể màu trắng đựng trong 11 (mười một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 2,0875 gam, loại Methamphetamine; 2. Tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) túi nylon có rãnh khép viền xanh được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,8532 gam, loại Methamphetamine; 3. Tinh thể màu trắng đựng trong 20 (hai mươi) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 3,9202 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của bị cáo T và T3).
Tại Kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 1. Nỏ ký hiệu số 01, 02 được đóng gói niêm phong gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine; 2. Nỏ ký hiệu số 03, 04, ..., 15 được đóng gói niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSCG ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố:
Bị cáo Phan Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Vương Thị Nguyệt T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phù Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hai bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Thanh T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Thanh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Phan Thanh T phải chấp hành hình phạt chung về hai tội từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Áp dụng điểm b, i khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Vương Thị Nguyệt T3 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phù Minh N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung: đối với bị cáo T theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 3 Điều 254 Bộ luật hình sự; đối với bị cáo T3 theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự và đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1079 gam, được đóng gói niêm phong số 152 và Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có tổng khối lượng 5,5604 gam, được đóng gói niêm phong số 153; thẻ sim điện thoại di động số 0922.119.xxx của bị cáo N; thẻ sim điện thoại di động số 0938.247.xxx của bị cáo T do sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi mua bán ma túy; 02 hộp nhựa màu đỏ có dòng chữ vàng bạc đá quý; 16 ống hút nhựa nhiều màu, 13 nỏ thủy tinh màu trắng chưa qua sử dụng; 01 nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng (bị bể một phần) và 01 bật lửa màu trắng, 01 cây kéo kim loại màu trắng, 02 đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo một đầu, 01 bình thủy tinh, trên nắp có ghim 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 nỏ thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng), 01 túi xách màu xám, có quai xách, kích thước 25x30cm.
Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng của bị cáo T do mua bán trái phép chất ma túy mà có, 01 điện thoại di động Samsung màu xám của bị cáo N và 01 điện thoại di động Samsung màu xanh của bị cáo T.
Buộc bị cáo Tâm giao N1 số tiền 50.000 đồng thu lợi bất chính có được do bán ma túy cho bị cáo N vào ngày 01/3/2024, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô biển số: 58S3 - 1108 thu giữ của bị cáo N không có giấy tờ hợp pháp, hiện chưa xác minh được nguồn gốc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Ba bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Ba bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phù Minh N khai nhận: bản thân là đối tượng nghiện ma túy, nên vào khoảng 02 giờ, ngày 07/3/2024 N liên lạc bằng điện thoại di động với T hỏi mua 01 gói ma túy đá. Đến khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày, T bán 01 gói ma túy cho N với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy, N điều khiển xe môtô, đến khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện C, thì bị Công an xã L kiểm tra hành chính, phát hiện N tàng trữ ma túy, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Theo Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: khối lượng ma túy bị cáo N tàng trữ là: 0,2137 gam, loại Methamphetamine. Ma túy bị cáo N tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên hành vi của bị cáo N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Qua lời khai của N, vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 07/3/2024 Cơ quan công an tiến hành khám xét khẩn cấp nhà trọ của T và T3 thu giữ: 34 gói nylon có rãnh khép, chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Theo Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 34 gói nylon có rãnh khép thu giữ tại nhà trọ của bị cáo T và T3 có tổng khối lượng: 6,8609 gam, loại Methamphetamine. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và T3 khai nhận: do muốn có ma túy để sử dụng và tiền để tiêu xài cá nhân nên T và T3 thống nhất mua ma túy về phân nhỏ bán lại cho các con nghiện. Từ ngày 01/3/2024 đến ngày 07/3/2024 T và T3 đã trên 02 lần bán ma túy cho các con nghiện. Cụ thể: ngày 01/3/2024 và ngày 07/3/2024, T bán cho Phù Minh N 02 gói ma túy, với giá 200.000 đồng/gói và sáng ngày 07/3/2024, T3 bán 01 gói ma túy cho 01 đối tượng nam (không rõ lai lịch), với giá 200.000 đồng. Trong quá trình bán ma túy, T và T3 thu lợi 150.000 đồng. Do đó hành vi trên của bị cáo T và T3 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội hai lần trở lên” và “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Trong vụ án hai bị cáo T và T3 cùng thống nhất ý chí mua ma túy về chia nhỏ bán lại, nhưng không có sự bàn bạc phân công, cấu kết chắc chẽ, nên không xem xét đến tình tiết phạm tội có tổ chức, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cũng xét về vị trí vai trò của hai bị cáo, bị cáo T là người chủ động mua ma túy về chia nhỏ thành nhiều gói, cất giấu và trực tiếp bán cho các con nghiện, bị cáo T3 là người giúp sức tích cực cho bị cáo T trong việc mua bán trái phép chất ma túy, trực tiếp bán cho các con nghiện.
[4] Ngoài ra quá trình khám xét khẩn cấp nhà trọ của bị cáo T và T3 còn thu giữ 15 (mười lăm) nỏ thủy tinh màu trắng dùng để sử dụng ma túy gồm: 13 (mười ba) nỏ chưa qua sử dụng, 01 (một) nỏ bị bể một phần và 01 nỏ đã qua sử dụng. Số nỏ thủy tinh này, tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khai nhận: là đặt mua trên mạng xã hội với giá 15.000 đồng/01 nỏ, mục đích để sử dụng và việc bị cáo T cất giấu các nỏ thủy tinh này, bị cáo T3 hoàn toàn không biết. Hành vi tàng trữ 15 nỏ thủy tinh của bị cáo T đã cấu thành tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết là “Có số lượng từ 06 đơn vị đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi trái pháp luật của ba bị cáo là nguy hiểm, ba bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như: mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy . . . nhưng ba bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của ba bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý ba bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với ba bị cáo theo Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với ba bị cáo: ba bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo T, T3 là vợ chồng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi 04 con chưa thành nên (có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo T3 tự nguyện giao nộp 14 gói ma túy khi Cơ quan Công an đang tiến hành khám xét, là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Xét về nhân thân của ba bị cáo: bị cáo T có nhân thân tốt, bị cáo T3 một lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau và bị cáo N một lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng. Xét thấy cần cách ly ba bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo ba bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với ba bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 3 Điều 254 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo T3 theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự và đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[9] Đối tượng nam tên T9 và 01 nam thanh niên giao hàng (không rõ lai lịch) theo bị cáo T khai là người thỏa thuận mua, bán ma túy và giao ma túy cho T. Qua điều tra, chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.
[10] Về tang vật thu giữ: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau:
[10.1] Đối với: Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1079 gam, được đóng gói niêm phong số 152 và Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có tổng khối lượng 5,5604 gam, được đóng gói niêm phong số 153, là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với thẻ sim điện thoại di động số 0922.119.xxx của bị cáo N và thẻ sim điện thoại di động số 0938.247.xxx của bị cáo T do sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi mua bán ma túy, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 hộp nhựa màu đỏ có dòng chữ vàng bạc đá quý; 16 ống hút nhựa nhiều màu; 13 nỏ thủy tinh màu trắng chưa qua sử dụng; 01 nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng (bị bể một phần); 01 nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu trắng; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 02 đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo một đầu; 01 bình thủy tinh, trên nắp có ghim 01 ống hút nhựa màu vàng; 01 túi xách màu xám, có quai xách, kích thước 25x30cm, túi xách bị cáo T dùng cất giấu ma túy. Xét thấy không có giá trị sử dụng và giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy.
[10.2] Đối với số tiền 400.000 đồng của bị cáo T, T3 do mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 07/3/2024 mà có, nên tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu xám của bị cáo N và 01 điện thoại di động Samsung màu xanh của bị cáo T, cả hai điện thoại sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi mua bán ma túy, nên tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra còn buộc bị cáo Tâm giao N1 số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng có được do bán ma túy cho bị cáo N vào ngày 01/3/2024, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[10.3] Đối với xe mô tô biển số: 58S3 - 1108 thu giữ của bị cáo N không có giấy tờ hợp pháp, hiện chưa xác minh được nguồn gốc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã có Công văn cố 290/CV- CSKT, ngày 26/7/2024 chuyển Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
[11] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Phan Thanh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Phan Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Phan Thanh T phải chấp hành hình phạt chung về hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/3/2024.
- Tuyên bố bị cáo Vương Thị Nguyệt T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, i khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Vương Thị Nguyệt T3 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/3/2024.
- Tuyên bố bị cáo Phù Minh N tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Phù Minh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/3/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam ba bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (05/9/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1079 gam, được đóng gói niêm phong số 152 và Mẫu là ma túy còn lại sau giám định có tổng khối lượng 5,5604 gam, được đóng gói niêm phong số 153; thẻ sim điện thoại di động số 0922.119.xxx; thẻ sim điện thoại di động số 0938.247.xxx; 02 (hai) hộp nhựa màu đỏ có dòng chữ vàng bạc đá quý; 16 (mười sáu) ống hút nhựa nhiều màu; 13 (mười ba) nỏ thủy tinh màu trắng chưa qua sử dụng; 01 (một) nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng (bị bể một phần); 01 (một) nỏ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu trắng, 01 (một) cây kéo kim loại màu trắng, 02 (hai) đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo một đầu; 01 (một) bình thủy tinh, trên nắp có ghim 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 (một) túi xách màu xám, có quai xách, kích thước 25x30cm.
Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: số tiền 400.000 đồng (bốn trăm ngàn đồng) 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xám và 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ-VKSCG, ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Buộc bị cáo Phan Thanh T phải nộp số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính sung nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 69/2024/HSST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC - TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành T và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
