|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thuý và ông Đoàn Quang Mạnh;
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện M, tỉnh Sơn La
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Bà Đinh Thị Trà M, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
Ông Lường Văn H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện M xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Cà Văn H1, sinh 18/8/1977; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Nà Lếch, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Cà Văn P, sinh 1930 và bà Lò Thị C (đã chết); vợ Quàng Thị P1, sinh 1973 và 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh 2005; tiền án: không; tiền sự: Ngày 14/9/2020 bị Toà án nhân dân huyện Mường La áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 20/12/2023 đến nay; có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo H1: Ông Nguyễn Phương V, là Luật sư thực hiện trợ giúp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 20/12/2023, tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính đối với Cà Văn H1; đấu tranh tại chỗ H1 lấy trong túi quần ra giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng; H1 khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.
Cà Văn H1 khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 18/12/2023, H1 đi nhờ xe của người đi đường đến bản Đan Én xã C thì gặp một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi và mua được 01 gói ma tuý với số tiền 250.000VNĐ, mang về nhà chia thành 04 gói nhỏ, H1 sử dụng 01 gói ma tuý và bán trái phép chất ma tuý 01 lần cho Quàng Văn C1 được số tiền 100.000VNĐ, còn lại cất giữ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Ngày 20/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Phòng K Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Cà Văn H1, như sau:
Cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng là 0,06 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu H1;
Cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng có khối lượng là 0,13 gam, lấy ra 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu H2. Còn lại: 0,08 gam ký hiệu H2A, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 22/12/2023 Phòng K Công an tỉnh S có Kết luận giám định số 90/KL-KTHS, kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu H1, H2 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: H1= 0,06 gam, H2 = 0,05 gam; tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,19 gam; loại Heroine”.
Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho H1 và người mua trái phép chất ma tuý Quàng Văn C1 nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của H1, không thu giữ được số tiền Hặc bán trái phép chất ma tuý cho C1.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-ML ngày 03/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Cà Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Cà Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn H1 từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,08 gam Heroine, 01 vỏ phong bì, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng; truy thu số tiền 100.000VNĐ; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo H1 tranh luận: đồng ý với lời khai bị cáo đã trình bày. Tuy nhiên chưa có cơ sở kết luận bị cáo đã bán trai phép chất ma tuý cho người khác, việc bị cáo khai được bán cho Quàng Văn C1 chỉ là lời khai duy nhất, theo quy định tại khoán 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự thì kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là không đủ cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại tội danh đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; không truy thu số tiền 100.000VNĐ; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật hạn chế, khối lượng ma tuý không lớn đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 16 đến 18 tháng tù; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:
3
Khoảng 09 giờ 05 phút, ngày 20/12/2023, tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện Cà Văn H1 cất giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý, cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời. Tại kết luận giám định số 90/KL-KTHS, ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu H1, H2 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: H1= 0,06 gam, H2 = 0,05 gam; tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,19 gam; loại Heroine”. Theo hướng dẫn tại điểm b, tiểu mục 3.3 mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT và mục 7 phần I Công văn số 89/TANDTC-PC, ngày 30/6/2020 của Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn “Mua bán trái phép chất ma tuý” là “Mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác” nên đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về chuyển tội danh là chưa đúng bởi lẽ tại phiên toà bị cáo vẫn khai nhận hành vi mua 01 gói ma tuý về chia nhỏ thành 4 gói đã sử dụng 01 gói và bán cho người khác 01 gói, còn lại ai hỏi mua vẫn bán thể hiện ý thức chủ quan của Cà Văn H1 cất giữ trái phép chất ma tuý vừa để bán và sử dụng. Như vậy, Cà Văn H1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo đã được giáo dục đưa vào cơ sở điều trị ma tuý, được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,19 gam mà còn nhằm mục đích bán cho người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do ma túy và kinh tế của gia đình bị cáo mà còn ảnh hưởng chính sách giáo dục của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo thành khẩn
4
khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa, vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, khối lượng ma tuý không lớn, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (có 01 tiền sự), là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), không có khả năng tự cải tạo nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và hành vi bán trái phép chất ma tuý theo lời khai của bị cáo cho Quàng Văn C1 được số tiền 100.000VNĐ; Cơ quan CSĐT đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo, không thu được số tiền 100.000VNĐ nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.
[9] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,11 gam; loại Heroine, không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,08 gam Heroine ký hiệu H2A thu giữ của Cà Văn H1 còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 02 mảnh nilon là vật dụng bị cáo sử dụng cất giữ trái phép chất ma túy, vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Cà Văn H1 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (20/12/2023); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,08 gam Heroine ký hiệu H2A; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 02 mảnh nilon của Cà Văn H1 (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H1
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trần Thị Thuý |
Đoàn Quang Mạnh |
Nguyễn Văn Hoà |
6
7
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ca Văn Hặc Mua bán trái phép chất ma túy
