Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Bùi Thanh Bình

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Phạm Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Văn P sinh năm 1997 tại tỉnh Ninh Bình

    Nơi cư trú: xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn V (đã chết) và bà Dương Thị N; có vợ Phạm Thị P1 và có 1 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ - XPHC ngày 06/9/2019, Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đoàn Văn P 750.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý ”; bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 16/01/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt.

  2. Dương Đức T sinh năm 2002 tại tỉnh Ninh Bình

    Nơi cư trú: xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đức V1 và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 179/QĐ - XPHC ngày 06/9/2019, Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt Dương Đức T 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 16/01/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt.

- Người chứng kiến: anh Trần Nguyên N1 sinh năm 1999; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn P và Dương Đức T có quan hệ bạn bè quen biết và đều là người sử dụng ma túy. T có quan hệ quen biết với một người đàn ông tên Vũ Thanh T2 và được T2 cho số điện thoại 0916.740.xxx của một người đàn ông không quen biết tên “T3” là người bán ma tuý. Chiều ngày 06/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, T rủ P đi mua ma tuý “đá” về để sử dụng nhưng do P đang đi đám cưới bạn tại xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nên hẹn lại T đến tối. Khoảng 18 giờ ngày 06/01/2024 tại đám cưới, P gặp và vay của anh Lã Đăng Q sinh năm 1998, trú tại xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là bạn của P số tiền 300.000 đồng với mục đích để mua ma tuý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Vẹo” của mình nhắn tin vào tài khoản mạng xã hội Facebook “P” của P bảo “Đến giờ đong gạo rồi anh”, P hiểu ý T nhắc đến giờ đi mua ma tuý, Phú nhắn lại “ em gọi trên nb đi”, T hiểu ý P bảo T gọi cho chỗ bán ma tuý trên thành phố N để mua ma tuý, T đồng ý. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng lắp sim số thuê bao 0365.525.223 gọi điện cho số thuê bao 0916.740.469 của người đàn ông tên T3 hỏi mua ma tuý đá với giá 500.000 đồng, T3 đồng ý và hẹn đến ngõ D, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 35B2-999.57 của mình đến đám cưới tại xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đón P rồi đi lên địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình để mua ma tuý. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T và P đi đến khu vực ngõ D, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình gặp T3 đang đứng ở trong ngõ, P đưa cho T3 500.000 đồng tiền mua ma tuý trong đó 300.000 đồng là tiền P vay của Q và 200.000 đồng là tiền của P, T3 cầm tiền và chỉ tay về phía bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để ở bồn cây gần đó và nói “ở trong bao thuốc lá đằng kia lại mà lấy” rồi bỏ đi. P xuống xe đi bộ đến vị trí T3 chỉ thấy 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, P nhặt lên mở ra thấy bên trong có túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định bên trong bao thuốc lá có chứa ma tuý đá, P cầm trên tay phải đi ra xe mô tô của T để đi về thì bị Tổ công tác Công an phường N, thành phố N đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, P tự giác giao nộp 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa ma tuý cho tổ công tác và khai nhận bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma tuý do P và T vừa mua được cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng trong suốt kích thước khoảng (6 x 4)cm miệng túi có viền màu đỏ, có chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng rồi đưa Đoàn Văn P và Dương Đức T về trụ sở công an phường N lập biên bản bắt người phạm quả tang. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Đoàn Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu đen lắp sim số 0359.010.626; thu giữ của Dương Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng lắp sim số 0365.525.223, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 35B2-999.57.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đoàn Văn P và Dương Đức T có khối lượng 0,360 gam ký hiệu M gửi giám định xác định chất ma túy và khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 139/KL-KTHS-MT ngày 11/01/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3575 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Như vậy khối lượng chất ma túy Đoàn Văn P và Dương Đức T tàng trữ là 0,3575 gam là ma túy, loại Methamphetamine

Hoàn trả lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2353 gam là ma túy, loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 139/KL-KTHS-MT.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chuyển đến Chi cục thi hành dân sự thành phố N để giải quyết cùng vụ án các tài sản, đồ vật thu giữ như sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu đen lắp sim số 0359.010.626 thu giữ của Đoàn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng lắp sim số 0365.525.223, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 35B2-999.57 thu giữ của Dương Đức T; 0,2353 gam là ma túy, loại Methamphetamine hoàn trả lại sau khi gửi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 139/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

Tại cáo trạng số 66/CT-VKSNDTPNB ngày 14/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo Đoàn Văn P, Dương Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn P, Dương Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn P từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 07/01/2024.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Đức T từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 07/01/2024.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 47 Bộ luật Hình sự :

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu đen lắp sim số 0359.010.626, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng lắp sim số 0365.525.223, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 35B2-999.57;

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng giám định hoàn trả lại sau khi gửi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 139/KL-KTHS-MT và 01 vỏ bao thuốc là nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu C.

c) Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo P, T đã khai nhận về thời gian, địa điểm và các tình tiết liên quan đến vụ án như nội dung vụ án đã nêu. Tại phiên tòa các bị cáo P, T đã khai nhận: ngày 16/01/2024 tại khu vực ngõ D, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình sau khi mua được 01 gói ma túy, bị cáo P cầm trên tay phải gói ma túy đi ra xe mô tô của T để đi về thì bị Tổ công tác Công an phường N, thành phố N bắt quả tang thu giữ vật chứng liên quan.

Trong quá trình điều tra người chứng kiến là anh Trần Nguyên N1 xác định ngày 16/01/2024 anh chứng kiến việc Công an phường N tiến hành kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long thu giữ của Đoàn Văn P và Dương Đức T thì phát hiện bên trong bao thuốc lá có 01 bên trong có túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Đoàn Văn P và Dương Đức T khai nhận đây là ma tùy vừa mua về để sử dụng.

Bị cáo Đoàn Văn P và Dương Đức T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì; Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của các bị cáo: lời khai tại phiên tòa của các bị cáo Đoàn Văn P, Dương Đức T đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 06/01/2024 tại khu vực ngõ D, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình tổ công tác Công an phường N bắt quả tang các bị cáo Đoàn Văn P và Dương Đức T có hành vi cất giấu trái phép 0,3575 gam là ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi cất giấu trái phép 0,3575 gam Methamphetamine của các bị cáo P, T đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..."

[2] Hình phạt: Trong vụ án này có hai bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên là đồng phạm có tính chất giản đơn. Vì vậy cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đồng thời xem tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.

+ Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

· Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đều bị xử lý hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 06/9/2019.

+ Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các bị cáo: bị cáo T là người rủ bị cáo P đi mua ma túy về cùng sử dụng, liên hệ với người bán ma tuý và dùng xe mô tô của bị cáo chở bị cáo P đi mua ma túy; bị cáo P là người bỏ tiền mua ma túy, trực tiếp giao dịch mua ma túy và cất giấu ma túy. Vì vậy bị cáo P và bị cáo T có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện tội phạm.

Sau khi xem xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên các bị cáo P, T phạm tội để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử lý các vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,2353 gam là ma túy, loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 139/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc là nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu đen lắp sim số 0359.010.626 thu giữ của Đoàn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng lắp sim số 0365.525.223, 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 35B2-999.57 số khung RLHKC4400NY002745, số máy KC34E1311787 thu giữ của Dương Đức T là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để mua ma túy.

[4] Về các vấn đề khác:

- Đối với anh Lã Văn Q1 là người cho P vay 300.000 đồng nhưng không biết P vay tiền để mua ma tuý và không liên quan đến hành vi Phú tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Lã Văn Q1.

- Về nguồn gốc ma túy: do bị cáo T không biết tên tuổi của người đàn ông tên T2 cho là người cho số điện thoại và người đàn ông bán ma túy tên T3 sử dụng số điện thoại 0916.740.xxx. Quá trình điều tra xác định chủ đăng ký thuê bao di động 0916.740.469 là Vũ Thị Mai L sinh năm 1996, trú tại phường V thành phố N, tỉnh Ninh Bình, chị L khai không sử dụng số điện thoại di động 0916.740.xxx và không biết ai đang sử dụng số thuê bao điện thoại trên. Do đó không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc số ma tuý trên

[5]. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người than gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn P, Dương Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Đoàn Văn P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/01/2024.

    Xử phạt bị cáo Dương Đức T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/01/2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy: 0,2353 gam là ma túy, loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 139/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu C .

    - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu đen lắp sim số 0359.010.626 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng lắp sim số 0365.525.223 được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu C1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 35B2-999.57, số khung RLHKC4400NY002745, số máy KC34E1311787.

    (Vật chứng đã được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  3. Về án phí: các bị cáo Đoàn Văn P và Dương Đức T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 23/5/2024).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS
  • Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn P và Dương Đức T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger