Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 21 tháng 9 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Phương - Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Chi Lăng, thị xã Tịnh Biên;

Bà Dương Thị Trà Hoa - Phó Bí thư Thị đoàn, thị xã Tịnh Biên.

Thư ký phiên toà: Ông Trương Quốc Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Trường G (Giang M), sinh năm 1981, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Kiều Quang C và bà Võ Thị M1 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị P và có 01 con sinh năm 2004; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba;

Nhân thân:

  • Ngày 10-8-2006, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 18-12-2010, chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các phần khác trong bản án;
  • Ngày 27-4-2012, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đến ngày 01-12-2015, chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các phần khác trong bản án;
  • Ngày 28-5-2019, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đến ngày 27-4-2020 chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các phần khác trong bản án.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A; có mặt.

2. Nguyễn Trương N (Tỉnh Ma), sinh ngày 16-5-2006, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ E, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị Kim L; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba.

Nhân thân: Ngày 03-12-2021, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; đến ngày 30-12-2023, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành phần án phí hình sự, dân sự và bồi thường dân sự trong bản án (xóa án tích do khi bị kết án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi).

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trương Nguyễn : Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ E, khóm V, phường N thành phố C, tỉnh An Giang; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trương Nguyễn : Bà Lê Hồ Bích H, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; có mặt.

3. Lê Phước H1, sinh ngày 30-4-2007, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Lê Long H2 (đã chết) và bà Lê Thị Mỹ P2; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Phước H1: Bà Lê Thị Mỹ P2, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N thành phố C, tỉnh An Giang; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Phước H1: Ông Hà Quang V, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; có mặt.

4. Nguyễn Hoàng H3, sinh ngày 10-12-2004, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Chí H4 (đã chết) và bà Phạm Thị T; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T; có mặt.

5. Võ Quốc T1, sinh ngày 17-8-2005, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ E, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Võ Thanh D1 và bà Võ Thị Mỹ T2; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T; có mặt.

6. Nguyễn Nhạc P3 (Phi Ngựa), sinh ngày 07-5-2003, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ A, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Hữu V1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé T3; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai;

Nhân thân: Ngày 19-01-2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tiền án: Ngày 17-01-2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; đến ngày 19-4-2022 chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp án phí hình sự.

Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30-01-2024 đến ngày 01-02-2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Phạm Chí H6, sinh năm 1981, nơi cư trú: tổ H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • Chị Nguyễn Thị Diễm M2, sinh năm 2001, nơi cư trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: A, L, Quận A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
  • Chị Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 2002, nơi cư trú: tổ E, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
  • Ông Võ Thanh T5, sinh năm 1991, nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • Bà Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1985, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
  • Bà Võ Thị Mỹ T2, sinh năm 1983, nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).

Người làm chứng: Phạm Thị T, sinh năm 1982; (có mặt); Nguyễn Văn C1, sinh năm 1980; Nguyễn Thị T7, sinh năm 1980; Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; Giang Ngọc M3, sinh năm 2006; (cùng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Trường G cho rằng Nguyễn Văn H5 nợ tiền của G nên khoảng 16 giờ 40 phút ngày 21-01-2024, G rủ Nguyễn Hoàng H3, Nguyễn Trương N, Nguyễn Nhạc P3, Võ Quốc T1, Lê Phước H1 cùng đến nhà ông H5 thuộc tổ A, khóm P, phường A, thị xã T để đòi tiền thì H3, N, P3, T1, H1 đồng ý.

Để thực hiện, G cầm 01 cây nỏ (loại bắn bi sắt và mũi tên), T1 lấy 02 cây dao đưa N cầm 01 cây dao, H1 cầm 01 cây dao rồi G điều khiển xe Wave màu tím (không rõ biển số) chở P3, T1 điều khiển xe mô tô biển số 67E1-372.93 chở H1, H3 điều khiển xe mô tô biển số 67H1-795.10 chở N đến nhà ông H5. Khi đến nhà ông H5, P3 đi trước, G cầm nỏ đi sau P3, H1 cầm dao đi sau P3 và G, T1 đi sau H1, N cầm dao đi sau cùng vào nhà ông H5, còn H3 ngồi ngoài giữ xe và cảnh giới. Lúc này, P3, H1 và G bước vào bên trong nhà, P3 kêu ông H5 trả tiền lại, còn H1 la nói “Ông trả tiền không” và cầm dao chém nhiều cái vào cửa sổ bằng gỗ thì ông H5 đứng phía trong cánh cửa gỗ cầm cây đỡ nên trúng vào người của G, G liền dùng tay gỡ bọc nilon ra khỏi nỏ và kéo dây nỏ lên dọa bắn ông H5, còn Nguyễn Đ1 ngoài cửa ra vào cầm dao chém vào vách nhà, do ông H5 sợ bị bắn nên chạy ra sau nhà, nhảy từ trên nhà sàn xuống đất (cách mặt đất khoảng 02m30) bỏ chạy thoát thân thì bị thương tích ở chân. Thấy ông H5 bỏ chạy, G kêu “bắt gà đem về”, T1 liền đi vào trong nhà của ông H5 mở 02 bội gà đang úp bắt 01 con gà trống màu vàng và 01 con gà trống màu trắng, rồi T1 mang ra đưa con gà màu trắng cho N cầm. Sau đó, G kêu mọi người đi về thì P3 điều khiển xe mô tô chở G, T1 01 tay cầm con gà màu vàng và 01 tay điều khiển xe chở H1, còn H3 điều khiển xe mô tô chở N cầm con gà màu trắng và 01 cây dao. Trên đường chạy về, T1 đưa con gà màu vàng cho Nguyễn C2, Nguyễn đưa lại cây dao cho H1 cầm rồi cùng nhau chạy về trại gà của G tại ấp V, xã V, thành phố C thì Nguyễn mang 02 con gà vừa bắt được của ông H5 nhốt vào bội để Phạm Chí H6 (làm thuê tại trại gà của G) chăm sóc.

Tang vật thu giữ: 02 con gà trống, đã trả lại cho bị hại Nguyễn Văn H5; 01 nỏ, loại bắn bi sắt và mũi tên, màu đen (do G giao nộp); 01 cây dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại (do H1 giao nộp); 01 cây dao tự chế bằng kim loại, 01 xe mô tô biển số 67H1-795.10, nhãn hiệu Suzuki, số loại: Raider (do Nguyễn Trương Nguyễn N1) và 01 khúc gỗ (2,5x3,5cm) dài 103 cm (do Nguyễn Văn H5 giao nộp).

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐG.TTHS ngày 29-01-2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: 01 con gà trống màu trắng, trọng lượng 3,350kg, trị giá 418.750 đồng; 01 con gà trống màu vàng, trọng lượng 3,1kg, trị giá 387.500 đồng. Tổng giá trị 806.250 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 170/KL-HĐĐG.TTHS ngày 30-01-2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: 01 con gà trống màu xanh, trọng lượng 3,9kg, trị giá 487.500 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn H5 đã nhận lại 02 con gà trống (màu trắng và màu vàng), riêng con gà màu xanh không xác định được bị mất khi nào, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý về hành vi cố ý gây thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1 và Nguyễn Nhạc P3 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSTB.HS ngày 26-8-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1 và Nguyễn Nhạc P3 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa,

Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Cẩm T4, Nguyễn Ngọc T6, Võ Thị Mỹ T2 và người làm chứng Phạm Thị T khai nhận phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Võ Trường G từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Trương Nguyễn từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Lê Phước Hiền từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Hoàng H3 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Võ Quốc T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Nhạc P3 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 20/2024/HSCNT-PT ngày 06-9-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo; do bị cáo G, H3, T1, P3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo N, H1 là người dưới 18 tuổi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không tiếp tục yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 nỏ, loại bắn bi sắt và mũi tên, màu đen; 01 con dao tự chế bằng kim loại tổng chiều dài 75cm; 01 con dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại tổng chiều dài của dao 46cm và 01 khúc gỗ dài 103cm. Giao trả cho Nguyễn Thị Cẩm T4 01 xe mô tô biển số 67H1-795.10, nhãn hiệu Suzuki do T4 không có lỗi trong việc để cho bị cáo N sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm.

Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Trương Nguyễn đồng Ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Nguyễn V2 tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thuộc thành phần lao động, thiếu sự quan tâm giáo dục của cha mẹ, học lực thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đề nghị xử phạt bị cáo 06 năm tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Người bào chữa của bị cáo Lê Phước H1 đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo học lực thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo H1 cầm dao chém vào cửa nhằm mục đích hù dọa bị hại, không có ý định chém vào bị hại, bị hại cũng có một phần lỗi khi cầm khúc gỗ đánh bị cáo G, do đó, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bên cạnh đó, 02 con gà trống mà các bị cáo chiếm đoạt không lớn, theo định giá là 806.250 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 05 năm tù.

Các bị cáo Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, người đại diện hợp pháp của bị cáo N, H1 thống nhất với luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác.

Các bị cáo G, H3, T1, P3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Văn H5, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Chí H6, Nguyễn Thị Diễm M2, Võ Thanh T5 và người làm chứng Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Văn K, Giang Ngọc M3, đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 21-01-2024, tại nhà của bị hại Nguyễn Văn H5 thuộc tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang, các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1 và Nguyễn Nhạc P3 đã có hành vi dùng dao tự chế và cây nỏ (loại bắn bi sắt và mũi tên) là hung khí nguy hiểm đe dọa tấn công bị hại Nguyễn Văn H5 nhằm uy hiếp tinh thần của bị hại để đòi tiền làm bị hại sợ bỏ chạy thoát thân, trong lúc bỏ chạy thoát thân dẫn đến bị hại bị thương tích ở chân, các bị cáo cùng nhau chiếm đoạt tài sản của bị hại H5 là 02 con gà trống, trị giá 806.250 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1 và Nguyễn Nhạc P3 đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng; bên cạnh đó, còn có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội nhưng ngược lại, vì mâu thuẫn trong việc tiền bạc, các bị cáo đã có hành vi cố ý dùng dao, nỏ đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, phân công rõ ràng, cụ thể khi thực hiện tội phạm; bị cáo G là người rủ rê, xúi giục các bị cáo khác, trong đó có bị cáo N và bị cáo H1 là người dưới 18 tuổi; các bị cáo N, T1, P3, H1 là người thực hành, giúp sức tích cực, bị cáo H3 là người giúp sức, canh đường, cảnh giới. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để tấn công bị hại, làm bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt được tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Trường G phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 17-01-2022, Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Nhạc P3 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đến ngày 19-4-2022, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích; do đó, bị cáo P3 phải chịu tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo; các bị cáo đã giao nộp lại 02 con gà trống chiếm đoạt của bị hại; riêng, bị cáo Võ Quốc T1, Nguyễn Nhạc P3 đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trước khi phạm tội, bị cáo Lê Phước H1 là người có nhân thân tốt; tại thời điểm phạm tội ngày 21-01-2024, bị cáo Lê Phước H1, sinh ngày 30-4-2007 và bị cáo Nguyễn Trương N, sinh ngày 16-5-2006 là người dưới 18 tuổi; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng chế định người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Phước H1, Nguyễn Trương Nguyễn K1 lượng hình. Các bị cáo là người chủ động mang theo dao tự chế, nỏ bắn bi đến nhà bị hại, lớn tiếng yêu cầu bị hại trả tiền và dùng dao chém nhiều cái vào cửa sổ, vách nhà của bị hại nhằm uy hiếp tinh thần của bị hại nên không cơ sở chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Phước H1 về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e, điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo H1 và các bị cáo còn lại.

Về nhân thân, các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Nguyễn Nhạc P3 có nhân thân xấu; bị cáo G đã nhiều lần bị xét xử về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo N đã bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo P3 đã bị xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Đối với các bị cáo Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1 trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự.

Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo đều làm thuê hoặc không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; riêng, bị cáo N, H1 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác; do dó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nỏ, loại bắn bi sắt và mũi tên, màu đen; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại tổng chiều dài 75cm; 01 (một) con dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại tổng chiều dài của dao 46cm và 01 (một) khúc gỗ dài 103cm.
  • Giao trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4: 01 (một) xe mô tô biển số 67H1-795.10, nhãn hiệu: Suzuki, số loại: Raider (đã qua sử dụng).

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo; người bào chữa cho bị cáo Lê Phước H1, Nguyễn Trương N, người đại diện hợp pháp của bị cáo H1, N; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác:

Ông Nguyễn Văn H5 cho rằng còn bị mất 01 con gà màu xanh (trong lượng 3,9kg, trị giá 487.500 đồng) nhưng không xác định bị mất khi nào và không yêu cầu bồi thường. Ngoài lời khai của ông H5 không có chứng cứ xác định các bị cáo G, N, H1, H3, P3, T1 có hành vi chiếm đoạt con gà màu xanh của ông H5. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với G, N, H1, H3, P3, T1 về việc chiếm đoạt con gà màu xanh của ông H5 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Chí H6 (người được thuê chăm sóc gà cho Võ Trường G) không biết 02 con gà mà G, N, H1, H3, P3 và T1 đưa cho H6 chăm sóc là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với H6 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ Trường G (G), Nguyễn Trương N (Tỉnh Ma), Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1, Nguyễn Nhạc P3 (P) phạm tội “Cướp tài sản”.

  1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Võ Trường G (Giang M) 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23-01-2024.
  2. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Trương N (Tỉnh Ma) 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23-01-2024.
  3. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Lê Phước H1 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23-01-2024.
  4. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng H3 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23-01-2024.
  5. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Võ Quốc T1 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24-01-2024.
  6. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Nhạc P3 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù của bản án này với hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 20/20247/HSCTN-PT ngày 06-9-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 30-01-2024.
  7. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nỏ, loại bắn bi sắt và mũi tên, màu đen; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại tổng chiều dài 75cm; 01 (một) con dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại tổng chiều dài của dao 46cm và 01 (một) khúc gỗ dài 103cm.
    • - Giao trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4: 01 (một) xe mô tô biển số 67H1-795.10, nhãn hiệu: Suzuki, số loại: Raider (đã qua sử dụng).

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

  8. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1, Nguyễn Nhạc P3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

    Các bị cáo Võ Trường G, Nguyễn Trương N, Lê Phước H1, Nguyễn Hoàng H3, Võ Quốc T1, Nguyễn Nhạc P3; người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo Nguyễn Trương N, Lê Phước H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm T4, Nguyễn Ngọc T6, Võ Thị Mỹ T2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Thời hạn kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn H5, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Chí H6, Nguyễn Thị Diễm M2, Võ Thanh T5 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TX. Tịnh Biên (2);
  • - Cơ quan CSĐT - Công an TX. Tịnh Biên (1);
  • - Nhà tạm giữ - Công an TX. Tịnh Biên (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phí Thị Phương Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về cướp tài sản

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Giang, Nguyễn, Hiền, Hưng, Thái, Phi - CTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger