|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày 11/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Thu Thảo - Nguyên phó Phòng giáo dục huyện Phú Giáo;
Ông Kim Niệm - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2004 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N, sinh năm 1980 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1983; tiền sự: Không; tiền án: Không;
Bị cáo Đặng Văn T đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Nguyễn Quang K, sinh ngày 13/11/2009. Nơi cư trú: Tổ C, ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Quang K: Ông Nguyễn Quang Q, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ C, ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Quang K: Ông Nguyễn Trọng T2 là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Đức H, sinh ngày 25/4/2006. Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh ngày 11/11/1982. Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
- Người làm chứng:
- Huỳnh Ngọc H2, sinh ngày 25/8/2011. (Vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Ngọc H2: Bà Phạm Thị Ngọc N1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Áp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Đinh Văn L, sinh ngày 14/4/2010. (Vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của Đinh Văn L: Bà Sần Thị Ngọc L1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 07/01/2004, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô biển số 61F1-562.87 một mình đi từ thị xã B, tỉnh Bình Dương đến xã A, huyện P, mục đích tìm bạn tên Đặng Thái P để đòi nợ, trước khi đi T đem theo một con dao để phòng thân. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, T ghé vào quán Coffe sân vườn, trà sữa XUXJ tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương uống nước. Khi vào quán T gặp Nguyễn Quang K, sinh ngày 13/11/2009 (14 tuổi 01 tháng 25 ngày) cùng Đinh Văn L, sinh năm 2010 và Huỳnh Ngọc H2, sinh năm 2011 đang uống nước tại quán. T không có điện thoại sử dụng do có quen biết với K nên T hỏi mượn điện thoại của K, nhưng K không cho nên T bực tức nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của K. Do tại quán đông người T không thực hiện hành vi được. Để thực hiện được ý định của mình, T kêu K lên xe T chở đi chỗ khác để nói chuyện. K sợ sẽ có chuyện nên K nháy mắt kêu L đi cùng. T chở K và L đi đến đoạn đường sói đỏ trong lô cao su Nông trường cao su L, thuộc ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương thì T dừng xe lại. T nói K và L xuống xe, đứng im, T lấy 01 con dao dài khoảng 20cm để trên xe mô tô biển số 61F1-562.87 rồi T dùng tay trái cầm tay trái của K, tay phải cầm dao kê sát vào vùng hông trái của K đe dọa, uy hiếp K đưa điện thoại cho T, K hoảng sợ nên lấy điện thoại ra đưa cho T. Lúc này, T kêu K đọc mật khẩu màn hình điện thoại để T mở và đổi mật khẩu màn hình điện thoại. Sau đó, T bỏ điện thoại vào túi quần và chiếm đoạt điện thoại của K, con dao thì T kẹp ở gác ba ga xe máy. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của K, T chở K, L lại quán C sân vườn, trà sữa XUXJ. Khi đến quán, L, K bỏ chạy vào trong quán nước, T điều khiển xe bỏ đi. Sau đó, K đến cơ quan Công an xã T trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin tố giác tội phạm Công an xã T tổ chức lực lượng truy tìm và bắt giữ T đang trên đường bỏ trốn.
Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A04E, màu xanh có giá trị 1.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S A04e màu xanh. Đây là tài sản của bị hại Nguyễn Quang K, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại, bị hại và đại diện bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
- - 01 (một) con dao Thái lan màu xanh, dài 20cm. Đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 (một) điện thoại Iphone 6. Đây là tài sản của anh Vũ Đức H, H để trong cốp xe mô tô biển số 61F1-562.87 mà H cho bị cáo T mượn, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại cho anh H, anh H đã nhận tại sản và không yêu cầu gì thêm.
- - 01 (một) xe mô tô 61F1-562.87, xe mô tô là của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Anh H1 cho Vũ Đức H mượn làm phương tiện đi lại, sau đó H cho T mượn làm phương tiện đi lại, H1 và H không biết T sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh H1, anh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 55/CT-VKSPG ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, e, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) con dao Thái lan màu xanh, dài 20cm. Đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Trong phần tranh luận:
Bị cáo Đặng Văn T cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và biện pháp tư pháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Quang K: Ông Nguyễn Trọng T2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B tranh luận: Bị cáo Đặng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của bị hại; bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại vì tức giận nhưng hành vi khách quan đã cấu thành tội Cướp tài sản quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự. Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, đã chấp hành xong nghĩa vụ quân sự, về hình phạt bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Đặng Văn T nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T đã khai nhận: Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 07/01/2024 tại đoạn đường sỏi đỏ trong lô cao su Nông trường cao su Lai Uyên thuộc ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đặng Văn T có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là một con dao đe dọa và chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Quang K 01 (một) điện thoại di động Samsung A04e màu xanh, có trị giá 1.500.000 đồng để sử dụng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị hại Nguyễn Quang K mới 14 tuổi 01 tháng 25 ngày. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị Công an xã T bắt khi đang trên đường bỏ trốn. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
[3] Hành vi của bị cáo Đặng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người thực hành với lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết việc dùng dao Thái lan là hung khí nguy hiểm đe dọa và chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Quang K là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo chiếm đoạt của bị hại 01 (một) điện thoại di động Samsung A04e màu xanh, có trị giá 1.500.000 đồng, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Như vậy, Cáo trạng số 55/CT-VKSPG ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã chấp hành xong nghĩa vụ quân sự, gia đình bị cáo có công với cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Đặng Văn T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 (một) con dao thái lan màu xanh, dài 20cm. Đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 326, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 07(bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao Thái lan màu xanh, dài 20cm (đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Đặng Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Quế |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Th phạm tội "Cướp tài sản"
