Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thế Căn
  2. Bà Đỗ Thị Hân

Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Nguyễn Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Tiến T, tên gọi khác: không, sinh ngày 03 tháng 01 năm 1988, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi đăng ký thường trú: khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện tại: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị G; vợ: Nguyễn Thị D, con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.

2/ Họ và tên: Ngô Anh T1, tên gọi khác: không, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2002, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn S và bà Cao Thị Đ; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Địa chỉ: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

2/ Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

3/ Chị Võ Thị Ngọc L, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: khối C, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

4/ Bà Trần Thị T2, sinh năm 1979; Nơi đăng ký thường trú: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện tại: thôn I, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

5/ Chị Phạm Thị Bích H3, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

6/ Chị Bùi Thị T3, sinh năm 1981; Địa chỉ: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

7/ Bà Khổng Thị L1, sinh năm 1968; Địa chỉ: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2017, Nguyễn Tiến T mở cửa hàng kinh doanh dịch vụ “Cầm đồ” tên “Tin Phát” tại thôn A, xã H, thành phố M. Đến khoảng giữa tháng 12/2021, do có nhiều người gọi, hỏi đặt vấn đề vay tiền, nên đã nảy sinh ý định cho vay lãi nặng để thu lợi. Sau đó, T bàn bạc và rủ Ngô Anh T1 làm thuê cho T, với tiền công là 6.000.000 đồng/tháng. T là người trực tiếp bỏ tiền vốn cho vay, còn T1 có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ tùy thân, sổ hộ khẩu, nhà cửa để xem xét khả năng trả nợ của người vay tiền, đi thu tiền lãi và đôn đốc trả nợ. T và T1 cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với hình thức vay trả góp (thường gọi là Bốc bát họ), với các gói vay 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng và 15.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Với gói vay 5.000.000 đồng, người vay không bị cắt lãi trước và được nhận đủ 5.000.000 đồng. Trong thời hạn 40 ngày, người vay phải trả tiền gốc, lãi là 150.000 đồng/ngày. Sau khi trả hết tiền gốc, lãi là 6.000.000 đồng, T và T1 được lãi 1.000.000 đồng (tương đương lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày).

Với gói vay 10.000.000 đồng, người vay bị cắt lãi trước 2.000.000 đồng và chỉ được nhận 8.000.000 đồng. Trong thời hạn 50 ngày, người vay phải trả tiền gốc là 200.000 đồng/ngày (tương đương 10.000.000 đồng/50 ngày). Sau khi trả hết tiền gốc, lãi là 12.000.000 đồng, T và T1 được lãi 2.000.000 đồng (tương đương lãi suất 4.000 đồng/1.000.000đ/ngày).

Với gói vay 15.000.000 đồng, người vay không bị cắt lãi trước và được nhận đủ 15.000.000 đồng. Trong thời hạn 45 ngày, người vay phải trả tiền gốc, lãi là 400.000 đồng/ngày. Sau khi trả hết tiền gốc, lãi là 18.000.000 đồng, T và T1 được lãi 3.000.000 đồng (tương đương lãi suất 4.444 đồng/1.000.000đ/ngày).

Khi đến thời hạn, người vay chưa trả được hết tiền gốc, lãi thì được vay gói mới để trả gói cũ, gói vay mới sẽ tính lãi lũy theo hình thức vay như trên. Hình thức nhận tiền vay, người vay nhận chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt theo yêu cầu. Tài sản bảo đảm cho khoản vay, người vay tiền chỉ cần thế chấp các loại giấy tờ tùy thân, sổ hộ khẩu, tài sản hoặc giấy tờ khác có giá trị chứng minh, nếu người vay tiền là người quen thì không cần đặt giấy tờ, tài sản, mà chỉ cần viết giấy nợ và có trường hợp không cần phải viết giấy nợ.

Với hình thức vay trả góp như trên, quá trình điều tra xác định được như sau: trong khoảng thời gian từ ngày 02/01/2023 đến ngày 23/01/2024, Nguyễn Tiến T và Ngô Anh T1 đã cho vay lãi nặng đối với 07 người, cụ thể như sau:

1. Đối với chị Nguyễn Thị H1: Từ ngày 13/01/2023 đến ngày 10/01/2024, vay 09 lần cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 13/01/2023, T cho chị H1 vay 10.000.000 đồng. Thực tế chị H1 chỉ nhận được 6.000.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay và trừ đi 2.000.000 đồng của gói vay cũ mà chị H1 còn thiếu khoản vay ngày 28/11/2022. Khoản vay này chị H1 còn nợ 1.400.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2 vào ngày 07/3/2023, chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 6.600.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.400.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 2.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 3 vào ngày 19/4/2023 chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 5.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.200.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 2.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 4 vào ngày 30/5/2023 chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 5.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.200.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 1.400.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 5 vào ngày 14/7/2023, chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 6.600.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.400.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 2.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 6 vào ngày 19/8/2023, chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 5.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.600.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 1.100.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 7 vào ngày 05/10/2023 chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 7.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.100.000 đồng. Khoản vay này chị H1 trả hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 8 vào ngày 28/11/2023, chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 8.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 1.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 9 vào ngày 10/01/2024 chị H1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H1 nhận được 6.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.600.000 đồng. Khoản vay này chị H1 còn nợ 4.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng

* Như vậy tổng 09 lần các bị cáo cho chị H1 vay với tổng số tiền 90.000.000 đồng, thời hạn 50 ngày, số tiền lãi là 2.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ ngày, tương ứng với lãi suất 146%/ năm gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị H1 nhận được từ các bị cáo là 57.600.000 đồng. Tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 18.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 15.534.243 đồng

2. Đối với chị Nguyễn Thị H2: Từ ngày 10/5/2023 đến ngày 18/12/2023, vay 07 lần cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 10/5/2023, các bị cáo cho chị H2 vay 10.000.000 đồng, thời hạn 50 ngày. Thực tế chị H1 chỉ nhận được 7.800.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay và 200.000 đồng tiền trả góp ngày đầu tiên của thời hạn vay. Khoản vay này chị H2 còn nợ 3.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2 vào ngày 11/6/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 5.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.000.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 2.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 3 vào ngày 20/7/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 5.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.200.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 2.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 4 vào ngày 26/8/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 5.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.800.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 5 vào ngày 30/9/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 4.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 1.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 6 vào ngày 12/11/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 6.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.600.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 7 vào ngày 18/12/2023, chị H2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H2 nhận được 4.800.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị H2 còn nợ 800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng

* Như vậy tổng 07 lần các bị cáo cho chị H2 vay với tổng số tiền 70.000.000 đồng, số tiền lãi là 2.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ ngày, tương ứng với lãi suất 146%/ năm gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị H2 nhận được từ các bị cáo là: 39.800.000 đồng. Tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 14.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 12.082.189 đồng

3. Đối với chị Võ Thị Ngọc L: từ ngày 02/01/2023 đến ngày 10/01/2024, vay 12 lần cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 02/01/2023, các bị cáo cho chị L vay 10.000.000 đồng. Thực tế chị L nhận được 4.600.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay và trừ đi 3.400.000 đồng của gói vay cũ mà chị L còn thiếu khoản vay ngày 30/11/2022. Khoản vay này chị L còn nợ 3.500.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2 vào ngày 23/02/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 4.500.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.500.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 3 vào ngày 01/4/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 4.800.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.260.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 4 vào ngày 27/4/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 4.740.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.260.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 5 vào ngày 25/5/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng với. Chị L nhận được 4.800.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 6 vào ngày 23/6/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng với. Chị L nhận được 4.800.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 7 vào ngày 24/7/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 5.000.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.000.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 2.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 8 vào ngày 31/8/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 5.400.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.600.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 9 vào ngày 29/9/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 4.800.000 đồng sau khi bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 3.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 10 vào ngày 30/10/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 5.000.000 đồng sau khi đã bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.000.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 2.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 11 vào ngày 03/12/2023 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 5.800.000 đồng sau khi đã bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.200.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 2.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 12 vào ngày 10/01/2024 chị L tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị L nhận được 5.400.000 đồng sau khi đã bị trừ số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.600.000 đồng. Khoản vay này chị L còn nợ 6.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng

* Như vậy tổng 12 lần các bị cáo cho chị L vay với tổng số tiền 120.000.000 đồng, với thời hạn vay và cách tính lãi như trên, tương ứng với lãi suất 146%/ năm, gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị L nhận được từ các bị cáo là: 59.640.000 đồng. Tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 20.712.324 đồng.

4. Đối với chị Trần Thị T2: từ ngày 30/01/2023 đến ngày 23/01/2024, vay 11 lần, cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 30/01/2023, các bị cáo cho chị T2 vay 10.000.000 đồng. Thực tế chị T2 chỉ nhận được 5.600.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay mới và trừ đi 2.400.000 đồng của gói vay cũ mà chị T2 còn thiếu khoản vay ngày 14/12/2022. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2 vào ngày 06/3/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.600.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 3 vào ngày 10/4/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 4 vào ngày 14/5/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.600.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 5 vào ngày 17/6/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.800.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 2.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 6 vào ngày 26/7/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 5.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.800.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 7 vào ngày 30/8/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.800.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 2.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 8 vào ngày 10/10/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 5.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.800.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 3.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 9 vào ngày 15/11/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 4.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.600.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 4.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 10 vào ngày 18/12/2023 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 3.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 4.600.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 4.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 11 vào ngày 23/01/2024 chị T2 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị Thu nhận được 3.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 4.600.000 đồng. Khoản vay này chị T2 còn nợ 6.800.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng

* Như vậy tổng 11 lần các bị cáo cho chị T2 vay với tổng số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn 50 ngày, số tiền lãi là 2.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng với lãi suất 146%/ năm, gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị Thu nhận được từ các bị cáo là: 49.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 22.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.986.297 đồng.

5. Đối với chị Phạm Thị Bích H3: từ ngày 20/01/2023 đến ngày 10/01/2024, vay 11 lần cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 20/01/2023, các bị cáo cho chị H3 vay 10.000.000 đồng. Thực tế chị H3 chỉ nhận được 4.000.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay mới và trừ đi 4.000.000 đồng của gói vay cũ mà chị H3 còn thiếu khoản vay ngày 17/12/2022. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2 vào ngày 01/3/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 3 vào ngày 07/4/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.600.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 1.400.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 4 vào ngày 22/5/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 6.600.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 1.400.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 2.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 5 vào ngày 26/6/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 5.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.600.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.400.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 6 vào ngày 29/7/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.600.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.400.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 7 vào ngày 31/8/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 5.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.000.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 8 vào ngày 05/10/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.200.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 4.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 9 vào ngày 06/11/2023 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 4.000.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 10 vào ngày 14/12/2023, chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.600.000 đồng. Khoản vay này chị H3 còn nợ 3.500.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 11 vào ngày 10/01/2024 chị H3 tiếp tục vay 10.000.000 đồng. Chị H3 nhận được 4.500.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền lãi của gói vay mới là 2.000.000 đồng và tiền còn nợ của gói vay cũ là 3.500.000 đồng. Khoản vay này chị H3 đã trả hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng

* Như vậy tổng 11 lần các bị cáo cho chị H3 vay với tổng số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn 50 ngày, số tiền lãi là 2.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ ngày, tương ứng với lãi suất 146%/ năm, gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị H3 nhận từ các bị cáo là: 52.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 22.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.986.297 đồng.

6. Đối với chị Bùi Thị T3: Từ ngày 13/3/2023 đến ngày 04/12/2023, vay 07 lần, cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 13/3/2023, các bị cáo cho chị T3 vay 10.000.000 đồng. Thực tế chị T3 chỉ nhận được 7.600.000 đồng do các bị cáo đã cắt 2.000.000 đồng tiền lãi của gói vay mới và trừ đi và 400.000 đồng tiền trả góp của hai ngày đầu tiên của thời hạn vay. Khoản vay này chị T3 đã thanh toán hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng
  • Lần 2: vào ngày 14/4/2023, chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng, với hình thức vay của gói vay 5.000.000 đồng như trên. Thực tế chị T3 chỉ nhận được 4.850.000 đồng do đã bị trừ đi 150.000 đồng tiền trả góp của ngày đầu tiên của thời hạn vay. Khoản vay này chị T3 đã thanh toán hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.
  • Lần 3 vào ngày 24/5/2023 chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng, chị Thu nhận đủ 5.000.000 đồng. Khoản vay này chị T3 đã trả hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.
  • Lần 4 vào ngày 04/8/2023 chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng. Thực tế chị Thu nhận 4.700.000 đồng do đã trừ đi 2 ngày trả góp, khoản vay này chị T3 đã trả hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.
  • Lần 5 vào ngày 27/9/2023 chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng. Thực tế chị Thu nhận 4.700.000 đồng do đã trừ đi 2 ngày trả góp, khoản vay này chị T3 còn nợ 450.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.
  • Lần 6 vào ngày 06/10/2023 chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng. Thực tế chị Thu nhận 4.400.000 đồng do đã trừ đi tiền còn nợ của gói vay cũ là 450.000 đồng và 150.000 đồng tiền trả góp của ngày vay đầu tiên, khoản vay này chị T3 đã trả hết tiền gốc và lãi. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.
  • Lần 7 vào ngày 04/12/2023 chị T3 tiếp tục vay 5.000.000 đồng. Thực tế chị Thu nhận 4.700.000 do đã trừ đi 2 ngày trả góp. Chị T3 đã trả hết số tiền gốc và lãi của khoản vay này. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 890.411 đồng.

* Như vậy tổng 7 lần các bị cáo cho chị T3 vay với tổng số tiền 40.000.000 đồng, trong đó: lần vay đầu tiên với số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn 50 ngày, số tiền lãi là 2.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ ngày, tương ứng với lãi suất 146%/ năm, gấp 7,3 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự và 6 lần vay sau với số tiền mỗi lần vay là 5.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng với lãi suất 182,5%/năm gấp 9,1 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị Thu nhận từ các bị cáo là: 35.950.000 đồng, tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 8.000.000 đồng, số tiền thu lời bất chính là 7.068.493 đồng.

7. Đối với chị Khổng Thị L1: từ ngày 04/01/2023 đến ngày 16/9/2023, vay 08 lần, cụ thể:

  • Lần 1: vào ngày 04/01/2023, các bị cáo cho chị L1 vay 15.000.000 đồng, với hình hình vay của khoản vay 15.000.000 đồng. Thực tế chị L1 nhận 9.300.000 đồng, do các bị cáo đã trừ đi 5.700.000 đồng tiền còn nợ của gói vay ngày 29/11/2022. Khoản vay này chị L1 còn nợ 2.800.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 2 vào ngày 19/02/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 12.200.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.800.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 3.300.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 3 vào ngày 01/4/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 11.700.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 2.800.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 4.700.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 4 vào ngày 05/5/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 10.300.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 4.700.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 6.000.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 5 vào ngày 11/6/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 9.000.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 6.000.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 6.900.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 6 vào ngày 13/7/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 8.100.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 6.900.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 7.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 7 vào ngày 13/8/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 7.400.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 6.900.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 7.200.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng
  • Lần 8 vào ngày 16/9/2023 chị L1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng. Chị L1 nhận được 7.800.000 đồng sau khi các bị cáo đã trừ đi số tiền còn nợ của gói vay cũ là 7.200.000 đồng. Khoản vay này chị L1 còn nợ 5.600.000 đồng. Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 2.630.137 đồng

* Như vậy tổng 8 lần các bị cáo cho chị L1 vay với tổng số tiền 120.000.000 đồng, thời hạn 45 ngày, số tiền lãi là 3.000.000 đồng/lần vay, lãi suất 4.444 đồng/1.000.000 đồng/ ngày, tương ứng với lãi suất 162,2%/ năm, gấp 8,1 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thực tế chị L1 nhận từ các bị cáo là: 75.800.000 đồng, tổng số tiền lãi các bị cáo thu được là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 21.041.096 đồng.

Ngày 07/02/2024, cùng ngày Nguyễn Tiến T và Ngô Anh T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đầu thú.

Về vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007868; 01 giấy thông hành nhập, xuất cảnh số 0306530, mang tên Võ Thị Ngọc L; 01 sổ tạm trú số [...], mang tên Võ Thị Ngọc L; 01 bản sao kê từ ngày 01/01/2022 đến ngày 05/02/2024, của tài khoản Ngân hàng M số 9890168969999, mang tên “NGO ANH TUAN”, được in trên 60 tờ giấy A4; 05 giấy vay tiền và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, gắn sim số 0335.539.109 do Ngô Anh T1 giao nộp. Thu giữ 01 bản sao kê từ ngày 01/01/2022 đến ngày 06/02/2024, của tài khoản Ngân hàng V số 0551000010441, mang tên “NGUYEN TIEN TUNG”, được in trên 243 tờ giấy A4; 01 bản sao kê từ ngày 03/01/2022 đến ngày 18/5/2024, của tài khoản Ngân hàng M số 7300199979999, mang tên “NGUYEN TIEN TUNG”, được in trên 09 tờ giấy A4; 01 cuốn sổ cho vay tiền gồm 18 mặt giấy, được đánh số từ 01 đến 18 thể hiện nội dung danh sách người vay tiền do Nguyễn Tiến T giao nộp

Tại bản cáo trạng số 982/CT-VKSMc ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến T và Ngô Anh T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Võ Thị Ngọc L, chị Trần Thị T2, chị Phạm Thị Bích H3, chị Bùi Thị T3, chị Khổng Thị L1 vắng mặt có lời khai tại Cơ quan điều tra xác nhận về thời gian, khoản vay, số lần vay và số tiền lãi các chị phải trả cho các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Ngô Anh T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

Về vật chứng thu giữ: đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, gắn sim số 0335.539.109 bị cáo T1 sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu và nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 cuốn sổ cho vay tiền, 05 giấy vay tiền, 10 bản sao kê tài khoản Ngân hàng, hiện lưu trong hồ sơ vụ án nên không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thực tế bị cáo dùng vào việc cho vay lãi nặng được trừ đi số tiền 84 triệu bị cáo đã nộp tại cơ quan Điều tra Công an thành phố M. Buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải trả lại số tiền gốc còn nợ của bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tố tụng: những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị T3, chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị H2, chị Võ Thị Ngọc L, chị Trần Thị T2, chị Phạm Thị Bích H3, chị Khổng Thị L1 vắng mặt không có lý do nhưng quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai và các lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với các lời khai của các bị cáo, nên việc vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử theo khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà.

Hội đồng xét xử kết luận: trong khoảng thời gian từ ngày 02/01/2023 đến ngày 23/01/2024, các bị cáo Nguyễn Tiến T và Ngô Anh T1 đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đối với 07 người gồm các chị Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, Võ Thị Ngọc L, Trần Thị T2, Phạm Thị Bích H3, Bùi Thị T3 và Khổng Thị L1, với tổng số tiền cho vay là 660.000.000đ (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng), lãi suất từ 4.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương 146%/năm đến 182,5%/năm, thời hạn cho mỗi lần vay từ 45 ngày đến 50 ngày. Tổng số tiền lãi Nguyễn Tiến T và Ngô Anh T1 thu được là 132.000.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu đồng) và tổng số tiền thu lời bất chính là 114.410.939đ (Một trăm mười bốn triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm ba mươi chín đồng).

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế về hoạt động cho vay trong giao dịch dân sự được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nên hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” thuộc trường hợp thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo mặc dù thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm đến chính sách Nhà nước về quản lý kinh tế nên vẫn phải xử lý hình sự đối với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[6] Xét tình chất đồng phạm, vai trò của các bị cáo thấy, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người khởi xướng và bỏ tiền vốn cho vay nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính trong vụ án. Bị cáo T1 với vai trò giúp sức cho bị cáo T nên chịu trách nhiệm sau bị cáo T

[7] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7.1] Đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị cáo tự nguyện đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tự nguyện nộp 84.000.000 đồng để khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm đ khoản 1 Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, mặt khác hiện gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình phải nuôi mẹ già và 03 con nhỏ, vợ không có nghề nghiệp ổn định, do vậy cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.

[7.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Sau khi xem xét tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo ngoài lần phạm tội này chưa bao giờ bị kết án, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo.

[9] Về phần xử lý vật chứng: các giấy tờ thu giữ gồm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 giấy thông hành nhập, xuất cảnh số 0306530 01 sổ tạm trú số [...], Cơ quan Điều tra Công an thành phố M đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét. Đối với các bản sao kê Ngân hàng và sổ vay tiền do các bị cáo nộp là tài liệu, chứng cứ được lưu trữ trong vụ án nên không xét.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 thu giữ của bị cáo T1, bị cáo dùng để liên lạc vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 84.000.000 đồng quá trình điều tra bị cáo T nộp để khắc phục một phần hậu quả đối với số tiền thu lợi bất chính nên trừ vào số tiền thu lời bất chính buộc bị cáo phải nộp.

[10] Các biện pháp tư pháp:

Do trong vụ án bị cáo T là người trực tiếp cho vay, thu lời bất chính nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm đối với các biện pháp tư pháp theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì các số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm được xử lý như sau:

- Số tiền thực tế bị cáo dùng cho vay nặng lãi:

Số tiền thực tế bị cáo T bỏ ra cho vay sau khi đã trừ các khoản vay mà bị cáo T chuyển số vay cũ thành số vay mới thì tổng số tiền cho vay thực tế là: 370.490.000 đồng.

* Khoản tiền thực tế các bị cáo cho vay, được trừ vào số tiền gốc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn nợ bị cáo T là: 24.600.000 đồng. Như vậy tổng số tiền bị cáo T cho vay thực tế là: 370.490.000 đồng – 24.600.000 đồng = 345.890.000 đồng tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Số tiền tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là: 17.589.061 đồng, tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với khoản tiền gốc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn nợ các bị cáo là 24.600.000 đồng, cần buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: chị Nguyễn Thị H1 phải nộp lại số tiền: 4.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị H2 phải nộp lại số tiền: 800.000 đồng; chị Võ Thị Ngọc L phải nộp lại số tiền: 6.600.000 đồng; chị Trần Thị T2 phải nộp lại số tiền: 6.800.000 đồng; chị Khổng Thị L1 phải nộp lại số tiền 5.600.000 đồng.

- Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20%/năm Bộ luật Dân sự quy định là số tiền thu lợi bất chính với tổng số tiền: 114.410.939 đồng, buộc bị cáo T phải trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo phần cụ thể như sau:

Trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền: 15.534.243 đồng; trả cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền: 12.082.189 đồng; trả lại cho chị Võ Thị Ngọc L số tiền: 20.712.324 đồng; trả lại cho chị Trần Thị T2 số tiền: 18.986.297 đồng; Trả lại cho chị Phạm Thị Bích H3 số tiền: 18.986.297 đồng; trả lại cho chị Bùi Thị T3 số tiền: 7.068.493 đồng; trả lại chị Khổng Thị L1 số tiền: 21.041.096 đồng. Tuy nhiên chị H2 và chị L1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này nên bị cáo không phải trả cho chị H2 và chị H2, do chị L1 và chị H2 không yêu cầu bị cáo phải trả.

[11] Đối với các khoản vay của các bị cáo cho các chị Nguyễn Thị H1, Võ Thị Ngọc L, Trần Thị T2, Phạm Thị Bích H3, Khổng Thị L1 vay tiền với lãi suất cao từ khoảng tháng 12/2021, tuy nhiên các gói vay đó tiền thu lời bất chính chưa đến 30.000.000 đồng, đồng thời đã hết thời hiệu xử phạt hành chính nên không xét. Riêng đối với khoản vay 15.000.000 đồng của chị Khổng Thị L1 vào ngày 26/10/2023, nhưng chưa trả tiền gốc, lãi cho bị cáo T và không có tài liệu khác chứng minh khoản vay này các bị cáo cho vay lãi nặng, nên không xét

[12] Đối với khoản vay của chị Vi Thị L2 và chị Phạm Thị Minh N, quá trình điều tra xác định chị L2, N không có mặt tại gia đình và địa phương, nên chưa triệu tập làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau nên không xét

[13] Ngoài ra các bị cáo T còn cho chị Phạm Thị H4 vay tiền nhưng không thu lãi nên không xét.

[14] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T: 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Ngô Anh T1: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến T cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Ngô Anh T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 61, 62/LCCT-TA ngày 24 tháng 7 năm 2024 và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 84, 85/QĐ-TA ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đối với các bị cáo Nguyễn Tiến T và Ngô Văn T4.

- Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Buộc bị cáo Nguyễn Tiến T phải nộp lại số tiền là: 363.479.061đ (Ba trăm sáu mươi ba triệu, bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng) sung ngân sách Nhà nước được trừ vào số tiền 84.000.000đ (Tám mươi bốn triệu đồng) T đã nộp cho cơ quan Điều tra Công an thành phố M (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 103/2024/THA ngày 25/6/2024 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Như vậy bị cáo Nguyễn Tiến T còn phải nộp số tiền: 279.479.061đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng) sung ngân sách Nhà nước

- Buộc bị cáo Nguyễn Tiến T phải trả cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền: 15.534.243đ (Mười lăm triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi ba đồng); chị Võ Thị Ngọc L số tiền: 20.712.324đ (Hai mươi triệu bảy trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng); chị Trần Thị T2 số tiền: 18.986.297đ (Mười tám triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm chín mươi bảy đồng); chị Phạm Thị Bích H3 số tiền: 18.986.297đ (Mười tám triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm chín mươi bảy đồng); chị Bùi Thị T3 số tiền: 7.068.493đ (Bảy triệu không trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng)

- Buộc các chị Nguyễn Thị H1 nộp lại số tiền: 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); chị Nguyễn Thị H2 nộp lại số tiền: 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng); chị Võ Thị Ngọc L nộp lại số tiền: 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng); chị Trần Thị T2 nộp lại số tiền: 6.800.000đ (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng); chị Khổng Thị L1 nộp lại số tiền 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng. Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim gắn trong chiếc điện thoại

(Tình trạng vật chứng, tiền thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 103/2024/THA ngày 25/6/2024 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái)

- Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng: khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1,3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh QN, TPMC;
  • - STPQN;
  • - Cq Điều tra TPMC;
  • - Cq Thi hành án HSTPMC;
  • - Thi hành án HS;
  • - Cơ quan THADS;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu án văn; Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Tùng cùng đồng phạm, cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger