Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU ĐỨC

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 05/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Thành

  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Ngân.

    2. Bà Trần Thị Hạnh.

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trịnh Quang Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/HS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị báo:

NGUYỄN ĐÌNH LIÊM - Sinh năm: 1994, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Đình L, sinh năm 1968; Mẹ: Lâm Thị L1, sinh năm 1975.

Tiền án: Ngày 04/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày 10/5/2023 chấp hành xong.

Tiền sự: Ngày 06/11/2023, bị Công an xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/5/2024 (có mặt tại phiên tòa).

+ Bị hại: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ D, thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1983; Trú tại: thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

  2. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1965; Trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (có mặt).

  3. Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ E, thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

  4. Ông Trà Thanh T1, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Đình L3 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Đình L3 là hàng xóm cạnh nhà bà Nguyễn Ngọc T. Hàng ngày quan sát, L3 phát hiện bà T thường buộc 05 con bò phía sau vườn nhà không có ai trông coi. Bị cáo biết vợ chồng bà T sẽ đi chơi xa khoảng 3 ngày từ ngày 31/3/2024. Do đó, L3 nảy sinh ý định trộm bò của gia đình bà T để bán kiếm tiền tiêu xài và trả nợ. Để thực hiện việc chiếm đoạt bò của nhà bà T thì ngày 30/3/2024, L3 gặp ông Nguyễn Văn L2 (có họ hàng với bị cáo) hỏi xin số điện thoại của thương lái mua bò. Ông L2 có hỏi xin để làm gì thì L4 nói xin cho người bạn. Sau đó, ông L2 cho L3 số điện thoại 0975.353.xxx của ông Trần Văn N là người làm nghề mua bán bò. Khi có số điện thoại thì L3 liên hệ với ông N hẹn ông N ngày 31/3/2024 đến nhà của L3 ở thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để xem bò rồi thỏa thuận giá cả mua bán và được ông L3 đồng ý.

Khoảng 12 giờ ngày 31/3/2024, L3 dẫn ông N đến vườn nhà bà T để xem bò. Lúc này, có 05 con bò đang ăn cỏ và L3 nói với ông N đây là bò của gia đình nhà L3. L3 chỉ vào một con bò cái (giống bò cỏ có lông toàn thân màu đỏ, lông đuôi đen, 17 tháng tuổi, nặng 210kg) và nói bán con bò này với giá 12.000.000 đồng. Ông N trả giá 10.000.000 đồng thì L3 đồng ý. Ông N đặt cọc trước cho L3 7.000.000 đồng và hẹn đến chiều sẽ trả tiền đầy đủ rồi chở bò. Nhưng chiều ông N bận việc không đến. Đến ngày hôm sau, khoảng 18 giờ ngày 01/4/2024, L3 nảy sinh ý định trộm thêm 01 con bò nữa để bán nên liên lạc với ông N và nói bán thêm một con bò cái (giống bò lai 3B có lông toàn thân màu trắng – đen, lông đuôi màu trắng, 17 tháng tuổi, nặng 230kg) với giá 11.000.000 đồng. Do đã xem 05 con bò trước đó nên ông N đồng ý mua. Ông N thuê ông Lê Văn Q (làm nghề vận chuyển) thuê chở 02 con bò đã trao đổi mua của L3 ở xã S với giá 300.000 đồng tiền vận chuyển và đưa cho ông Q 14.000.000 đồng nhờ ông Q trả tiền mua bò giúp thì ông Q đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 02/4/2024, ông Q điều khiển xe ô tô biển số 72C-062.53 đến khu vực thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp L3 và bị cáo hưỡng dẫn lùi xe vào vườn nhà bà T. Tiếp đến, bị cáo đi vào gỡ dây buộc hai con bò dắt lên thùng xe ô tô cho ông Q. Ông Q đưa L3 14.000.000 đồng. Khi ông Q điều khiển xe chở theo 2 con bò vừa mua ra tới đường X - S (cách nhà bà T 01km) thì bị bà T phát hiện nên trình báo Công an xã S bắt giữ cùng tang vật.

Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 28/BB-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: “Tổng giá trị tài sản trộm cắp ngày 02/4/2024: 22.460.000 đồng.”

Vật chứng vụ án:

  • - 01 ô tô biển số 72C-062.53, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Lê Văn Q, ông Q là người vận chuyển thuê, không biết tài sản mà mình vận chuyển là do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 624/QĐ ngày 02/5/2024 trả lại cho ông Q.

  • - 01 con bò cái, giống bò cỏ có lông toàn thân màu đỏ, lông đuôi đen, 17 tháng tuổi, nặng 210kg; 01 con bò cái, giống bò lai 3B có lông toàn thân màu trắng – đen, lông đuôi màu trắng, 17 tháng tuổi, nặng 230kg đây là tài sản của bà Nguyễn Ngọc T nên ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà T.

  • - Đối với số tiền 7.000.000 đồng ông Trần Văn N đặt cọc trước cho bị cáo vào ngày 31/3/2024 thì L3 đã trả nợ cho Trà Thanh T1 (sinh năm: 1988, trú tại thôn B, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) 5.400.000 đồng. Ngày 25/4/2024, T1 đã tự nguyện giao nộp 5.400.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Số tiền còn lại 1.600.000 đồng L3 đã trả lại cho Ông N.

  • - Số tiền 19.400.000 đồng (gồm: 14.000.000 đồng thu giữ được từ bị cáo L3 và 5.400.000 thu giữ từ T) là tiền ông N trả cho L3 để mua bò. Ông N không biết 02 con bò mà L3 bán là tài sản trộm cắp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng số 623/QĐ ngày 02/5/2024 trả lại cho ông N.

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen của bị cáo L3 dùng làm phương tiện liên lạc, trao đổi mua bán bò phục vụ cho hành vi phạm tội nên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý, chờ xử

Về phần trách nhiệm dân sự:

Ông Trần Văn N đã nhận lại đủ số tiền 21.000.000 đồng nên không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Bà Nguyễn Ngọc T đã nhận lại 02 con bò, không có thiệt hại nào nên không yêu cầu gì bồi thường dân sự, đồng thời xin xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L3.

Tại Cáo trạng số 70/CT-VKS-CĐ ngày 13/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã truy tố Nguyễn Đình L3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo L3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L3 từ 18 đến 24 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, số I: 868683049197993; tiêu hủy thẻ sim có số seri 8984048000917843679.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Qúa trình điều tra, truy tố, các hành vi, Quyết định của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại hồ sơ vụ án; phù hợp kết luận định giá tài sản; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ kết luận: Do cần tiền tiêu xài và trả nợ, khi biết gia đình bà T đi vắng liên tục 03 ngày nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt con bò của gia đình bà T để bán lấy tiền. Để thực hiện, bị cáo đã liên hệ và giao dịch trực tiếp với ông N (là thương lái mua bò) và được ông N đồng ý mua 02 con bò. Khoảng 13 giờ ngày 02/4/2024, tại vườn nhà bà Nguyễn Ngọc T thuộc thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Đình L3 đã chiếm đoạt 01 con bò cái (có đặc điểm giống bò cỏ có lông toàn thân màu đỏ, lông đuôi đen, 17 tháng tuổi, nặng 210kg) và 01 con bò cái (có đặc điểm giống bò lai 3B có lông toàn thân màu trắng – đen, lông đuôi màu trắng, 17 tháng tuổi, nặng 230kg) của bà Nguyễn Ngọc T có tổng trị giá 22.460.000 đồng.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn, xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm, nhưng vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy để sử dụng và trả nợ nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của viện kiểm sát đã truy tố.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L3 đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự; Ngày 06/11/2023, bị cáo bị Công an xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng.

  • [4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Với tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo như trên cần thiết phải có mức án nghiêm bằng hình thức phạt tù có thời hạn, qua đó giúp cải tạo, giáo dục bị cáo biết sống tuân thủ pháp luật, cũng như răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự trong xã hội.

[6] Vấn đề khác:

  • [6.1] Đối với Trần Văn N và Lê Văn Q, quá trình điều tra, ông N và ông Q không biết bò mà bị cáo bán là tài sản trộm cắp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý N và Q về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  • [6.1] Đối với Trà Thanh T1, khi nhận số tiền trả nợ 5.400.000 đồng từ bị cáo L3, anh T1 không biết đây là số tiền từ trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với T1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  • [6.3] Đối với ông Nguyễn Văn L2, do không biết L3 xin số điện thoại để phục vụ cho việc trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với ông L2 về hành vi “Trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm với bị cáo L3 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  • [6.4] Đối với hành vi của bị cáo về việc cung cấp thông tin gian dối cho ông N làm ông N tin tưởng là bò của bị cáo nên diễn ra việc giao dịch mua bán. Thực tế, bị cáo đã thực hiện theo thỏa thuận giữa bị cáo và ông N, cụ thể bị cáo đã dắt 02 còn bò lên xe chở đi. Mục đích của bị cáo là muốn chiếm đoạt 02 con bò của bà T. Do vậy, hành vi của L3 không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[7]Về trách nhiệm dân sự: Bà T đã nhận lại 02 con bò và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[8]Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, số Imei: 868683049197993 của bị cáo; Bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để thực hiện việc trộm cắp tài sản. Do vậy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với 01 (Một) thẻ sim có số seri 8984048000917843679 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9]Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, điềm h khoản 1 Điều 52, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Đình L3 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.

  • + Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không giải quyết.

  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, số Imei: 868683049197993; tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim có số seri 8984048000917843679.

    (Vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024).

  • + Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc Nguyễn Đình L3 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PC 10, PV 06 (Công an tỉnh BR-VT);
  • - VKSND huyện Châu Đức;
  • - Công an huyện Châu Đức;
  • - CCTHA dân sự huyện Châu Đức;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger