TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS-PT Ngày 27 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Minh Tân
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Ông Trần Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/TLPT-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị Yến K, do bị hại có kháng cáo và Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Huỳnh Thị Yến K, sinh ngày 10/10/1983 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Số A, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn (văn hoá): 12/12; con ông Huỳnh Thanh Q (đã chết) và bà Văn Quế X, sinh năm: 1955; có chồng là Lê Duy T, sinh năm 1985; con: 01 người, tên Lê Thị Linh N, sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. (có mặt)
- Bị hại có kháng cáo:
- Bà Vưu Thanh T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số B, khóm A, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt)
- Bà Vưu Thị Thanh D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số E, khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Ông Lê Duy T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A, Phường H, Quận N, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Thị Yến K và bà Vưu Thị Thanh D là bạn bè, thông qua bà D, K biết bà Vưu Thanh T1 (chị ruột bà D). Từ mối quan hệ quen biết, K đã nhiều lần vay tiền của bà D và bà T1 nhưng không trả rồi chiếm đoạt.
Đối với khoản vay tiền của bà Vưu Thị Thanh D:
Vào tháng 7/2019, K đến nhà của bà Vưu Thị Thanh D tại địa chỉ: Khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để hỏi vay số tiền 147.000.000 đồng. Lúc này, bà D hỏi K “vay tiền để làm gì", K sợ bà D không cho vay nên nói dối là “vay tiền để cho Nguyễn Chí T2 vay lại với lãi suất cao hơn để kiếm lời" (trước đó K biết anh Nguyễn Chí T2, sinh ngày 16/5/1985, nơi cư trú: ấp K, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu có vay tiền của bà D nhưng đã trả tiền lãi và gốc đầy đủ). Bà D nghe K nói vậy nên đồng ý cho vay số tiền 147.000.000 đồng, lãi suất 04%/tháng, trả lãi 30 ngày một lần. Bị cáo K viết giấy biên nhận ký tên và giao giấy biên nhận tiền cho bà D giữ, còn lãi suất thì thỏa thuận miệng. Sau khi nhận được tiền, K tiêu xài hết.
Đối với các khoản vay tiền của bà Vưu Thanh T1, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 27/9/2019, K đến nhà của bà D hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng. Bà D hỏi K “vay tiền để làm gì", K nói “vay tiền về để đầu tư công trình làm ăn". Bà D biết gia đình K có Công ty xây dựng nhưng bản thân không còn tiền để cho vay. Tuy nhiên, do là chỗ bạn nên bà D nói với bà Vưu Thanh T1 cho K vay, bà T1 tin tưởng giao số tiền 100.000.000 đồng để bà D đưa cho K. Sau đó, bà D yêu cầu K viết giấy biên nhận có vay của Vưu Thanh T1 số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn trả 30 ngày một lần, lãi suất 04%/tháng. Sau khi nhận tiền, K đem về giao cho ông T đầu tư vào công trình, trả lãi ngân hàng đối với khoản vay thế chấp căn nhà địa chỉ số A, hẻm E, T, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tại Ngân hàng N1 chi nhánh thành phố B và chi xài cá nhân.
Lần thứ hai: Ngày 04/10/2019, bị cáo K tiếp tục vay bà T1 số tiền 100.000.000 đồng, có viết biên nhận vay tiền có chữ ký của bị cáo K và chữ ký của Lê Duy T. Bị cáo sử dụng số tiền vay đưa cho T đầu tư vào công ty, trả lãi ngân hàng và chi xài cá nhân.
Lần thứ ba: Vào ngày 15/10/2019, bị cáo K tiếp tục vay bà T1 số tiền 200.000.000 đồng, có viết biên nhận vay tiền, có chữ ký của bị cáo K và chữ ký Lê Duy T. Bị cáo sử dụng số tiền vay như lần 01 và lần 02.
Lần thứ tư và thứ năm: Vào các ngày 20/11/2019 và ngày 21/11/2019, K đến nhà bà D để hỏi vay 02 lần, mỗi lần vay 50.000.000 đồng. Cả hai lần vay này, K đều nói với bà D “vay tiền để đầu tư vào làm công trình của công ty và làm thủ tục bản căn nhà số E, đường số E, khu dân cư T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để lấy tiền trả T1”. Bà D qua nhà gặp bà T1 kể lại sự việc K đến hỏi vay tiền, bà T1 đồng ý và giao tiền cho bà D về đưa cho K. Bà D yêu cầu K viết giấy biên nhận vay của Vưu Thanh T1 số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 04%/tháng, thời hạn trả lãi là 30 ngày một lần. Sau khi nhận được tiền, K tiếp tục giao cho ông T đầu tư vào các công trình được ký kết với Trung tâm Q1, tiêu xài cá nhân và đóng lãi ngân hàng đối với căn nhà số A, hẻm E, T, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thành phố Bạc Liêu.
Lần thứ sáu: Vào ngày 09/5/2020, K đến nhà bà D hỏi vay thêm số tiền 50.000.000 đồng để đầu tư kinh doanh, bà D nghe K1 nói vậy nên nói với bà T1 và bà T1 tin tưởng giao cho bà D số tiền 50.000.000 đồng mang về cho K. Sau đó, bà D yêu cầu K viết giấy biên nhận vay của Vưu Thanh T1 số tiền 50.000.000 đồng giống như những lần vay trước đó. Sau khi nhận được tiền, Kiều hùn với ông Lê Duy K2, sinh ngày 01/01/1986, nơi cư trú: số B, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (em chồng K) đầu tư trồng vườn và tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng tháng 6/2020, K đóng lãi cho bà D được 05 tháng với số tiền 25.000.000 đồng (khoản vay 147.000.000 đồng), còn số tiền vay của bà T3 thì chưa đóng lãi. Thấy không còn khả năng trả nợ, vào ngày 01/9/2020, K và chồng là ông Lê Duy T đã bán căn nhà số E, đường số E, khu dân cư T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với số tiền 800.000.000 đồng để đem trả tiền vay cho Ngân hàng 286.640.000 đồng, hùn trồng vườn với ông Lê Duy K2 khoảng 180.000.000 đồng và đóng lãi ngân hàng khoảng 200.000.000 đồng; số tiền còn lại khoảng 133.360.000 đồng tiêu xài vào mục đích cá nhân hết mà không trả cho bà D và bà T1 rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Bà D đã nhiều lần điện thoại cho K để đòi tiền nhưng không liên lạc được nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trình báo sự việc.
Tại Kết luận giám định số 104/KL-KTHS, ngày 19/12/2022 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận:
“Chữ ký mang tên Huỳnh Thị Yến K trên các tài liệu cần giám định kí hiệu từ A1 đến A5 so với chữ ký của Huỳnh Thị Yến K trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M5 do cùng một người ký ra”.
“Chữ viết trên các tài liệu cần giám định kí hiệu từ A1 đến A5 (trừ chữ Lê Duy T” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A3) so với chữ viết của Huỳnh Thị Yến K trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người viết ra”
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Yến K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Yến K mức án 02 năm, 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ Luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Yến K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Yến K mức án 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo K phải chấp hành là 07 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Duy T cùng với bị cáo Huỳnh Thị Yến K bồi thường cho bị hại.
Buộc bị cáo Huỳnh Thị Yến K và ông Lê Duy T cùnng có trách nhiệm bồi thường cho bà Vưu Thị Thanh D số tiền 239.600.000 đồng, trong đó tiền gốc là 147.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 31/7/2024 là 92.600.000đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Thị Yến K và ông Lê Duy T cùng có trách nhiệm bồi thường cho bà V Thanh Thuý số tiền 421.954.334 đồng, trong đó tiền gốc là 195.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 31/7/2024 là 226.954.334 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 14/8/2024, các bị hại bà Vưu Thị Thanh D và bà Vưu Thanh T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị cấp phúc thẩm xem xét huỷ Bản án sơ thẩm, do có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của Huỳnh Thị Yến K và người phạm tội là ông Lê Duy T đối với 02 biên nhận vay tiền ngày 04/10/2019, số tiền 100.000.000 đồng và ngày 15/10/2019, số tiền 200.000.000đồng. Đồng thời Bản sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ không đúng và đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Ngày 29/8/2024 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu có Quyết định số 05/QĐ-VKS-P7, kháng nghị theo hướng huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, với nội dung: Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Thị Yến K và người phạm tội Lê Duy T; vi phạm về việc buộc bị cáo trả tiền lãi đối với số tiền phạm tội trong thời gian bị xử lý trách nhiệm hình sự; vi phạm về việc không áp dụng Điều 283 Bộ luật Dân sự để tuyên Lê Duy T cùng với bị cáo bồi thường cho bị hại.
Tại phiên tòa:
Bị hại bà Vưu Thị Thanh D và bà Vưu Thanh T1 giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Về thời hạn kháng cáo và thủ tục kháng cáo của bị hại và kháng nghị của Viện Kiểm sát đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Thị Yến K3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Thị Yến K và người phạm tội Lê Duy T đối với lần vay tiền thứ 02 ngày 04/10/2019 số tiền 100.000.000 đồng và lần vay thứ 03 số tiền 200.000.000 đồng; đồng thời bản án còn vi phạm về việc buộc bị cáo trả tiền lãi đối với số tiền phạm tội trong thời gian bị xử lý trách nhiệm hình sự; vi phạm về việc không áp dụng Điều 283 Bộ luật Dân sự để tuyên Lê Duy T cùng với bị cáo bồi thường cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, giao hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu để điều tra lại theo thủ tục chung.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm, bị cáo không có ý kiến tranh luận, mà đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Bị hại bà Vưu Thị Thanh D và bà Vưu Thanh T1 không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Duy T trình bày: Sau khi ông và bị cáo K bán căn nhà ở khu dân cư T thì ông vẫn ở địa phương, không bỏ trốn như Viện Kiểm sát trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại và kháng nghị của Viện Kiểm sát được thực hiện đúng luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nhận định: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 9/2020, tại khóm E, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu bị cáo Huỳnh Thị Yến K có hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền 147.000.000 đồng của bà Vưu Thị Thanh D và 04 lần vay tiền của bà Vưu Thanh T1, mặc dù có điều kiện, khả năng trả nợ nhưng cố tình không trả, đồng thời bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng và tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Yến K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” số tiền 147.000.000 đồng và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” số tiền 250.000.000 đồng.
Qua kiểm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào tháng 7/2019 bị cáo Huỳnh Thị Yến K có nói với bà Vưu Thị Thanh D muốn vay tiền để cho Nguyễn Chí T2 vay lại với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệnh, nhưng thực tế không có người vay tiền, mà bị cáo sử dụng mục đích cá nhân. Từ đó, cấp sơ thẩm kết tội bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 147.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, bị cáo vay tiền của bị hại, nói là cho người khác vay lại, có viết biên nhận và có thoả thuận lãi suất, thời hạn trả lãi, nhưng bị cáo không cho người khác vay lại mà sử dụng mục đích cá nhân. Tuy nhiên, nhưng bị cáo có đóng lãi cho bị hại được 05 tháng với số tiền 25.000.000 đồng. Đối với cấu thành cơ bản của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến...”. Xét thấy, giữa bị cáo và bị hại có giao dịch vay mượn tiền, có thoả thuận lãi suất và thực tế bị cáo có đóng lãi cho bị hại, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ bị cáo “dùng thủ đoạn gian dối” trước khi nhận tiền vay để chiếm đoạt tài sản của bị hại nên chưa đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[2.2] Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát và kháng cáo của bị hại:
[2.2.1] Đối với hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bị cáo:
Ngày 16/3/2015, bị cáo K và chồng là Lê Duy T thành lập Công ty TNHH T4, tại nhà số A, hẻm E, đường T, khóm B, phường G, thành phố B (nhà của cha, mẹ bị cáo K). Quá trình hoạt động, do thiếu vốn kinh doanh và cần tiêu xài, nên từ ngày 27/9/2019 đến ngày 09/5/2020 bị cáo Huỳnh Thị Yến K có nhiều lần vay tiền của bà Vưu Thanh T1, cụ thể: Lần thứ nhất, ngày 27/9/2019 vay số tiền 100.000.000 đồng; lần thứ hai, ngày 04/20/2019 vay 100.000.000 đồng; lần thứ ba, ngày 15/10/2019 vay số tiền 200.000.000 đồng; lần thứ tư, ngày 20/11/2019 vay 50.000.000 đồng; lần thứ năm, ngày 21/11/2019 vay 50.000.000 đồng; lần thứ sáu, ngày 09/5/2020 vay 50.000.000 đồng. Trong các lần vay tiền, bị cáo và bà T1 không xác định thời hạn trả nợ; lãi suất cho vay là 04%/tháng, trả lãi 30 ngày/lần. Tuy nhiên, sau khi vay được tiền bị cáo không đóng lãi theo thoả thuận. Đến ngày 01/9/2020, bị cáo bán nhà tại số E, đường số E, khu dân cư T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu của vợ chồng bị cáo với số tiền 800.000.000 đồng. Mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng không trả cho bà T1, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi của bị cáo K đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Đối với lần vay thứ hai ngày 04/10/2019 và thứ ba ngày 15/10/2019 thì bị cáo và Lê Duy T (chồng bị cáo) cùng ký vào biên nhận vay tiền của bà T1, số tiền 300.000.000 đồng, nhưng cấp sơ thẩm xác định đây là giao dịch dân sự, nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là chưa có căn cứ. Bởi lẽ, trong 06 lần bị cáo vay của bà T1 thì bị cáo đều viết biên nhận và ký tên, lãi suất cho vay và thời gian trả lãi như nhau, cùng một chuỗi hành vi, nhưng cấp sơ thẩm tách ra lần vay thứ hai 100.000.000 đồng và lần thứ ba 200.000.000 đồng là giao dịch dân sự là không đúng, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo K.
[2.2.2] Đối với Lê Duy T, tại biên bản ghi lời khai ngày 17/02/2024 (Bút lục: 655- 656), T thừa nhận có ký vào các biên nhận của lần vay thứ hai, ngày 04/10/20219 số tiền 100.000.000 đồng và lần thứ ba ngày 15/10/2019 số tiền 200.000.000 đồng, nhưng nội dung biên nhận thể hiện bị cáo K là người vay tiền của bà T1, T chỉ ý tên vào biên nhận, do bị hại T1 yêu cầu T là chồng bị cáo phải ký tên vào biên nhận vay tiền thì mới cho bị cáo vay, nên việc T ký vào các biên nhận vay tiền nêu trên có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo K, cần phải điều tra làm rõ.
[2.2.3] Đối với nội dung kháng nghị cấp sơ thẩm vi phạm buộc bị cáo trả tiền lãi đối với số tiền phạm tội trong thời gian bị xử lý trách nhiệm hình sự và không áp dụng Điều 283 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo K và Lê Duy T (chồng bị cáo K) đồng ý thanh toán toàn bộ tiền gốc và tiền lãi theo yêu cầu của bị hại; việc bị cáo K và Lê Duy T đồng ý thanh toán tiền cho bị hại là hoàn toàn tự nguyên, không vi phạm đều cấm của luật, phù hợp với Điều 585 Bộ luật Dân sự về nguyên tắc bồi thường thiệt hại.
[2.3] Từ những nhận định nêu trên, cần phải hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu để chuyển hồ sơ về cho Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu điều tra làm rõ những vấn đề nêu trên theo đúng quy định pháp luật.
[3] Về án phí: Về án phí hình sự phúc thẩm bà Vưu Thị Thanh D và Vưu Thanh T1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST, ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Giao hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tân |
Bản án số 69/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 69/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự phúc thẩm tội Lạm dụng TNCĐTS và Lừa đảo CĐTS
