Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ - ST

Ngày 29 - 11 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hằng.

2. Bà Lưu Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị N, sinh năm 1992;

2. Bị đơn: Anh Tạ Việt C, sinh năm 1989;

Cùng cư trú tại: Khu B, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đều có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Cao Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tạ Việt C tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 20/10/2023 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, vợ chồng có cãi vã không tìm được tiếng nói chung. Đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh C nữa, nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết cho chị được ly hôn, sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Tại Bản tự khai của bị đơn anh Tạ Việt C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh C xác nhận về thời gian kết hôn, thời gian chung sống, vợ chồng có ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn như chị N trình bày là đúng, ngoài ra anh C còn trình bày thêm về việc chị N đã bỏ về nhà ngoại từ tháng 5/2024, từ đó vợ chồng không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị N có đơn xin ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn ngay và xin đoàn tụ, đợi vợ sau khi sinh con sẽ giải quyết, nếu chị N cương quyết ly hôn anh sẽ nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Anh C không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, do khoảng cách địa lý xa Tòa án và điều kiện sức khỏe không cho phép di chuyển nhiều nên anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng dân sự:

1.1. Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” và nơi cư trú bị đơn là tại xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.1.2. Nguyên đơn, bị đơn đều có đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, chị N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và việc Tòa án xét xử vắng mặt chị N và anh C là hoàn toàn phù hợp với khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về yêu cầu, ý kiến của đương sự:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh C bảo đảm các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của đương sự cho thấy, vợ chồng chị N và anh C chung sống hòa thuận được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, lối sống, thiếu sự tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn tới vợ chồng thường nói cãi nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không đạt được kết quả. Từ khoảng tháng 5/2024 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm tới nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N đề nghị ly hôn anh C là có căn cứ, cần chấp nhận.

Anh Tạ Việt C không đồng ý ly hôn nhưng trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh C không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không đến Tòa án để hòa giải. Mặt khác, anh cũng trình bày anh không đồng ý ly hôn ngay mà đợi sau khi vợ sinh con sẽ giải quyết, nếu chị N cương quyết ly hôn anh sẽ nhất trí. Điều đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên anh đề nghị được đoàn tụ là không có căn cứ chấp nhận.

2.2 Về con chung: Vợ chồng đều thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2.3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Vợ chồng đều thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 luật thián dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị N được ly hôn anh Tạ Việt C.

2. Về con chung: Không đề cập giải quyết.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Chị Cao Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị Cao Thị N và anh Tạ Việt C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND TP Việt Trì;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Xuân Quân

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ - ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Cao Thị N xin ly hôn Anh Tạ Việt C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger