Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN YÊN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-11-2024

V/v xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Sáng.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lý Trung Hiếu.

Ông Phạm Thanh Châu Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nghiêm Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 223/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc xin ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-11-2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1942. Có mặt

Trú quán: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1958. Có mặt

Trú quán: Thôn M, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2024, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Đ trình bày: Ông kết hôn với bà Hoàng Thị T vào năm 2012, vợ chồng tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 03/4/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng về làm ăn sinh sống tại thôn M, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, cùng chăm sóc nhau. Đến đầu năm 2024 thì vợ chồng không còn tình cảm, ông tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, đau ốm rất nhiều. Ông bị u tuyến tiền liệt, đau khớp, gút, suy tim, huyết áp cao. Ông không muốn bà T phải khổ vì ông, phải chăm sóc ông khi ông ốm đau. Để giải thoát cho bà T nên ông xác định không muốn làm vợ chồng với bà T nữa. Từ đầu năm 2024 giữa ông và bà Hoàng Thị Thanh X ra cãi, chửi nhau nhiều lần. Ông chuyển ra thôn C, xã M ở hơn 01 năm nay, từ đó vợ chồng sống ly thân. Nhiều hôm bà T còn ra chửi ông, đánh ông. Nay ông xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà Hoàng Thị T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Hoàng Thị T.

Về con chung: Ông và bà Hoàng Thị T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Hoàng Thị T trình bày: Lời trình bày của ông Đ về quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Đ là đúng. Bà kết hôn với ông Nguyễn Xuân Đ vào năm 2012, vợ chồng tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 03/4/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng về làm ăn sinh sống tại thôn M, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, cùng chăm sóc nhau. Đến cuối năm 2023 thì bà và ông Đoàn X1 ra mâu thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ đưa chị T1 ở xã Đ về đó ngủ với ông Đ tại nhà ông Đ. Bà cho rằng ông Đ cặp kè với chị T1, có tình cảm với người phụ nữ khác. Từ đó giữa bà và ông Đoàn X1 ra cãi nhau. Hiện nay ông Đ tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, đau ốm rất nhiều. Bà không muốn ông Đ phải khổ vì bà, bà cũng không cần ông Đ phải chăm sóc bà nhưng phải cam kết đảm bảo an toàn cho bà. Không để gia đình chị T1 đe dọa đánh bà thì bà mới đồng ý ly hôn, còn giờ bà không đồng ý ly hôn. Nay ông Đ xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà nữa thì là việc của ông Đ.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Xuân Đ không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Đoàn T2 thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các bên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là vụ án về hôn nhân và gia đình, các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái thụ lý và giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị T có quan hệ vợ chồng, ông Đ là người khởi kiện nên là nguyên đơn, bà T là người bị kiện nên là bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà T kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 03/4/2012 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng: Xét thấy quá trình chung sống giữa ông Đ và bà T có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, ông Đ già yếu, bệnh tật nhiều nên ông không muốn bà T phải khổ vì ông. Còn bà T nghi ngờ ông Đ ngoại tình từ đó dẫn đến vợ chồng xảy ra to tiếng với nhau, cãi chửi nhau. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng không sống cùng nhau mà mỗi người ở một nơi, ông Đ ở nhà mình tại thôn C, xã M còn bà T ở thôn M, xã Q của huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Bà T cho rằng bà không còn tình cảm vợ chồng với ông Đ nữa nhưng bà không đồng ý ly hôn. Bà T cũng không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, còn ông Đ vẫn kiên quyết đòi ly hôn. Điều này vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Xuân Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Xuân Đ đối với bà Hoàng Thị T.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống giữa ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị Thanh T3 thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Do ông Nguyễn Xuân Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, tuy nhiên ông Nguyễn Xuân Đ là người cao tuổi 82 tuổi, ông Đ có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Xuân Đ. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đ đối với bà Hoàng Thị T. Ông Nguyễn Xuân Đ được ly hôn bà Hoàng Thị T.
  2. Về con chung: Ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Xuân Đ.
  5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND, THADS huyện;
  • - UBND xã Mậu Đông, H Văn Yên;
  • - UBND xã Quang Minh, H Văn Yên;
  • (Giấy CNKH số 04 ngày 03/4/20212)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS,TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Quang Sáng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Trung Hiếu

Phạm Thanh Châu Giang

Vũ Quang Sáng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về xin ly hôn

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đoàn kết hôn với bà Thanh vào năm 2012, vợ chồng có đăng ký kết hôn. Đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, cãi nhau, đánh nhau.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger