|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Mai Thị Huyền Trang và ông Phạm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 19/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Võ Lê Hoài T – Sinh năm: 2005 - Có mặt
Địa chỉ: khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: anh Trần Vinh Q – Sinh năm: 1997 – Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Lê Hoài T trình bày:
Chị T và anh Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo theo giấy chứng nhận kết hôn số 26/2023 ngày 09/02/2023 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, hiện nay giấy chứng nhận kết hôn đã thất lạc nên không giao nộp cho Tòa án được. Trong thời kỳ hôn nhân có một con chung là cháu Trần Võ Quang Q1 - sinh ngày 15/01/2023; tài sản chung không có.
Do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc. Từ những mâu thuẫn trên, vợ chồng tự ý sống cách xa nhau, không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Bản thân chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Q, yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn đã được Tòa án thông báo hợp lệ (niêm yết công khai) về việc khởi kiện, triệu tập hợp lệ lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn vắng mặt lần 2, không có lý do nên đề nghị áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” của nguyên đơn chị Võ Lê Hoài T đối với bị đơn anh Trần Vinh Q và buộc chị Võ Lê Hoài T phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Trần Vinh Q được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiến bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Nội dung vụ án:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của chị T được ly hôn với anh Q thấy:
Căn cứ lời trình bày của chị T, kết quả xác minh của Tòa án tại chính quyền địa phương nơi chị T và anh Q chung sống có đủ căn cứ xác định: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị T, anh Q phát sinh mâu thuẫn dẫn tới tự ý sống cách xa nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình. Đây là lần thứ 2 chị T nộp đơn khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Q. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị T hương được ly hôn với anh Q.
[2.2]. Xét yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của chị T thấy:
Cháu Trần Võ Quang Q1 – sinh ngày 15/01/2023 là con chung của chị T và anh Q, tính đến ngày xét xử sơ thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi và chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng nên tiếp tục giao cháu cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu nên không xem xét.
[2.3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận cho chị Võ Lê Hoài T được ly hôn với anh Trần Vinh Q.
- Giao con chung là cháu: Trần Võ Quang Q1 – sinh ngày 15/01/2023 cho chị Võ Lê Hoài T trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: chị Võ Lê Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Võ Lê Hoài T đã nộp theo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00004287 ngày 22/4/2024, chị Võ Lê Hoài T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 20/8/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Tùng |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
