|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/DS-PT Ngày: 05/9/2024 V/v: “Tranh chấp QSDĐ; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSĐ và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia
Ông Lê Trúc Lâm
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Đẳng, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 8 và ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 86/2023/TLPT-DS ngày 01/11/2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản” giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1954, bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn M: Bà Trần Thị Như T, Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; Địa chỉ: C N, phường E, tp T, tỉnh Phú Yên.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Hải Y: Bà Nguyễn Minh T1, Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; Địa chỉ: G Đ, phường G, tp T, Phú Yên.
Đều có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng T2, sinh năm 1975, bà Lương Thị T3, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T3: Ông Nguyễn C, sinh năm 1941 và ông Nguyễn Hùng T2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Sở Giao thông vận tải tỉnh P.
- - Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.
- - Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- - Bà Lê Thị Vân A, sinh năm 1978; Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: 0 C, phường C, Tp., tỉnh Phú Yên.
- - Ông Lê Văn P, sinh năm 1994; Ủy quyền cho ông Lê Văn M, sinh năm 1954; Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Đều vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y; Bị đơn ông Nguyễn Hùng T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y trình bày:
Diện tích đất hiện nay đang tranh chấp tại thửa 106, tờ bản đồ 367D, theo đo đạc thực tế hai bên tranh chấp là 165m², có nguồn gốc do ông, bà tôi để lại cho vợ chồng tôi. Khi cân đối đất theo Nghị định 64/CP thì gia đình tôi đăng ký sử dụng đất nên được Nhà nước cân đối và giao đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 102241. Hiện nay ông Nguyễn Hùng T2 đang sử dụng thửa đất này của tôi với diện tích 99,8m². Nên chúng tôi khởi kiện đề nghị Tòa giải quyết buộc ông T2, bà T3 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm nêu trên và tháo dỡ các tài sản xây dựng trên diện tích đất 99,8m² này.
Đối với nội dung yêu cầu phản tố của bị đơn tôi có ý kiến như sau: năm 2011, tôi được Nhà nước cấp 250m² đất ở nông thôn tại thửa 890, tờ bản đồ 367D tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 10/11/2011, trong cùng giấy chứng nhận này còn có 02 thửa đất trồng cây hàng năm khác là 106 có diện tích 565m² và thửa 891 có diện tích 266m². Năm 2014, vợ chồng tôi có bán cho vợ chồng T2, T3 diện tích 85m² đất ở nông thôn tại thửa 890, tờ bản đồ 367D. Do đó, việc mua bán giữa vợ chồng tôi với vợ chồng T2, T3 năm 2014 không liên quan đến phần diện tích đất 99,8m² đang tranh chấp tại thửa 106, tờ bản đồ 367D. Ngoài việc mua bán diện tích đất 85m² năm 2014 ra thì giữa vợ chồng tôi với vợ chồng T2, T3 không còn mua bán, đổi chác diện tích đất nào khác.
Tại giấy giao nhận tiền đặt cọc ngày 22/5/2014, giữa vợ chồng tôi với vợ chồng T2, T3 đã thỏa thuận: vợ chồng tôi bán cho cho vợ chồng T2, T3 250m² tại thửa 104, tờ bản đồ 367D, có giới cận rõ ràng với giá 100.000.000 đồng. Tại thời điểm ngày 22/5/2014 ông T2, bà T3 đặt cọc 20.000.000đ. Sau đó hai bên đến Ủy ban nhân dân xã H làm Hợp đồng chuyển nhượng thì Ủy ban xác định diện tích đất mà chúng tôi đang giao dịch mua bán là đất 5% do UBND xã quản lý; nên việc thỏa thuận đặt cọc ngày 22/5/2014 của hai bên không đạt được, nên tôi trả lại 20.000.000đ tiền cọc; nhưng ông T2, bà T3 chưa nhận lại tiền mà năn nỉ chúng tôi còn đất nào thì bán cho T2, T3 kẽo vợ chồng không có đất ở, nên chúng tôi liên hệ với Phòng Tài nguyên môi trường huyện kiểm tra lại diện tích đất ở của chúng tôi, sau khi kiểm tra thì phần đất ở mà tôi chưa xây dựng vật kiến trúc nào đang còn trống có 85m², nên hai bên thống nhất chuyển nhượng diện tích đất ở 85m² với giá 100.000.000đ và nhận cọc 20.000.000đ như giấy ngày 22/5/2014 và hai bên đi làm thủ tục giấy tờ đối với 85m² đất ở này; còn thỏa thuận lại từ việc chuyển nhượng từ 250m² đất sang 85m² đất thì không viết giấy tờ gì cả, vì nghĩ không thành nên coi như bỏ.
Do đó, việc bị đơn phản tố cho rằng Giấy giao nhận tiền đặt cọc ngày 22/5/2014 để mua 250m² đất mà mới giao 85m² đất để yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay 250m² đất ở là không có cơ sở; nên chúng tôi không chấp nhận (đã được đo vẽ thực tế xác định phần diện tích 65,2m² đất vợ chồng tôi quản lý, phần 99,8m² đất ông T2, bà T3 quản lý).
Hiện tại 99,8m² đất chúng tôi đang tranh chấp với ông T2, bà T3, UBND xã H cho rằng đất này là do Ủy ban nhân dân xã Q là không đúng, yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Hùng T2 và đại diện theo ủy quyền bà T3 (ông T2, ông Nguyễn C) trình bày:
Năm 2014, ông T2, bà T3 có mua đất của ông M, bà Y với diện tích 250m² đất ở tại nông thôn có diện tích chiều dài (theo hướng Nam – Bắc) 50m, chiều rộng (Đông – Tây) dài 5m, có tứ cận: Phía Bắc giáp Quốc lộ B, phía Nam và phía Tây giáp ruộng 2 lúa, phía Đông giáp phần đất còn lại của ông M với giá 100.000.000đ. Khi giao dịch hai bên có viết giấy mua bán và đặt cọc đất ở ngày 22/5/2014. Sau khi mua bán thì ông M, bà Y tách thửa một phần có diện tích 85m² đất ở nông thôn và làm thủ tục sang tên cho ông T2, bà T3 với diện tích theo giấy chứng nhận đã tách thửa; thì sau đó ông T2, bà T3 hỏi sao chỉ giao 85m² đất, thì ông M, bà Y trả lời ông, bà làm trước cho ông T2, bà T3 phần diện tích đất này để có sổ cho ông T2, bà T3 đi vay tiền ngân hàng để trả số tiền mua đất còn nợ của ông M, bà Y; phần diện tích đất còn lại thì ông M, bà Y sẽ làm sổ sau, nên ông M, bà Y viết 02 giấy cam kết vào ngày 02/7/2014 và ngày 27/7/2014 với nội dung hoán đổi cho ông T2, bà T3 một lô đất để tiện sử dụng và 01 lô đất cho ông T2, bà T3 mượn để làm chái. Sau khi viết giấy mượn và giấy hoán đổi xong thì ông T2, bà T3 giao đủ tiền và nhận 03 phần diện tích đất gồm 85m² đất ở theo giấy chứng nhận đã cấp và phần diện tích đất hoán đổi phía trên (cách xã phần đất hai bên thỏa thuận mua bán 5m) diện tích bao nhiêu thì ông T2, bà T3 không nhớ và phần diện tích đất ông M, bà Y cho mượn nằm phía trước phần đất hoán đổi diện tích đất bao nhiêu thì ông T2, bà T3 cũng không biết, nhưng giáp với Quốc lộ B để thuận tiện cho việc sửa xe của ông T2. Từ đó ông T2, bà T3 sử dụng ổn định trên 03 phần diện tích đất này; nhưng chỉ có phần diện tích đất 85m² có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn các phần khác ông M, bà Y chưa làm giấy nên ông T2, bà T3 tiếp tục yêu cầu ông M, bà Y làm giấy chứng nhận các phần đất còn lại, nhưng ông M, bà Y không chịu và nói rất khó nghe. Đến năm 2016, ông T2, bà T3 làm đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Phú Hòa yêu cầu giải quyết và năm 2018 ông T2, bà T3 thấy hành vi của ông M, bà Y có dấu hiệu lừa đảo nên ông T2, bà T3 rút đơn để làm hồ sơ gửi Công an điều tra hành vi của ông M, bà Y; nên Tòa đình chỉ giải quyết vụ án. Sau đó có trả lời của Công an và Viện kiểm sát huyện Phú Hòa không có dấu hiệu hình sự; nên ông T2, bà T3 tiếp tục làm đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Phú Hòa vào năm 2019 và được giải quyết từ đó cho đến nay.
Vậy vợ chồng ông M, bà Y yêu cầu ông T2, bà T3 trả lại phần diện tích đất được đo đạc thực tế 99,8m² (hiện tại ông T2 đang làm tiệm sửa xe) nằm phía trước mặt tiền nối liền với thửa đất 85m² của ông T2, bà T3; thì ông T2, bà T3 không chấp nhận và có đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M, bà Y với ông T2, bà T3 lập ngày 22/5/2014 với diện tích đất ở 250m² và buộc vợ chồng ông M, bà Y phải giao đủ cho ông T2, bà T3 phần diện tích đất ở thiếu còn lại là 165m². Hiện tại phần diện tích đất 99,8m² ông T2 đang làm tiệm sửa xe, nếu Tòa xác định phần đất này của vợ chồng ông M, bà Y thì ông T2 có trách nhiệm tự tháo dỡ công trình trả lại đất cho ông M, bà Y.
Do khi mua bán đất ông M, bà Y giao đất không đủ cho ông T2, bà T3, nên có hoán đổi chỉ cho ông T2, bà T3 phần đất khác (cách đất hai bên thỏa thuận mua bán 5m) như đã nói ở trên để ông T2, bà T3 xây dựng tiệm sửa xe, nhưng đất này là đất của UBND xã H quản lý và UBND xã H đã cưỡng chế tháo dỡ toàn bộ tài sản của ông T2, bà T3 xây dựng trên đất có giá trị 91.000.000đ; nay ông T2, bà T3 yêu cầu ông M, bà Y phải bồi thường trả lại số tiền này cho ông T2, bà T3 vì lỗi này của ông M, bà Y chỉ đất cho ông T2, bà T3 xây dựng sai mới bị cưỡng chế thiệt hại như vậy.
Đối với diện tích đất 99,8m² hiện tại ông T2 đang quản lý và xây dựng tiệm sửa xe là ông T2, bà T3 mua của ông M, bà Y. Nay UBND xã H cho rằng đất của Ủy ban xã quản lý, thì việc này ông T2, bà T3 không biết do ông M, bà Y với Ủy ban xã không liên quan gì đến ông T2 và bà T3.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Vân A, bà Lê Thị Mỹ H, ông Lê Duy P1: thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn ông M, bà Y và không tranh chấp gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên trình bày: qua kiểm tra đối chiếu với hồ sơ địa chính (bản đồ đo đạc năm 1993, Sổ mục kê đất đai lưu tại UBND xã) xác định phần diện tích các bên tranh chấp 99,8m² là thuộc thửa 104, tờ bản đồ 367D là đất quy hoạch giao thông do UBND xã quản lý; phần diện tích 65,2m² thuộc thửa 106, tờ bản đồ 367D là đất trồng cây hàng năm khác của hộ gia đình ông Lê Văn M). Đối với phần đất 99,8 m² hiện tại ông T2 xây dựng công trình trên phần đất này đề nghị khắc phục tháo dỡ và trả lại mặt bằng hiện trạng cho Ủy ban xã quản lý theo qui định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên: không có văn bản trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2023/DSST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 118, 129, 155, 158, 163, 500, 584, 585, 589 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, 24, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y đối với bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” về yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 trả lại diện tích đất 99,8m², có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất ông Lê Văn M; phía Tây giáp đất trống do UBND xã H quản lý; phía Nam giáp nhà cấp 4 do ông Nguyễn Hùng T2 xây dựng; phía Bắc giáp Quốc lộ B; tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 đối với nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y về việc: “Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y với ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giấy viết tay ngày 22/5/2014. Buộc ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y phải có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 số tiền 165.000.000đ (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng) tương ứng với diện tích đất ở là 165m².
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 đối với nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm ”số tiền 91.000.000đ (chín mươi mốt triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 9 năm 2023, nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại Quyết định số 01/2024/QĐ-PT ngày 29/02/2024, TAND tỉnh Phú Yên chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thị T3 (ông Nguyễn C).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn và không chấp nhận ý kiến của UBND xã H về diện tích đất 99,8m² là đất do UBND xã quản lý, buộc bị đơn trả lại diện tích đất này cho nguyên đơn.
Bị đơn đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên kháng cáo buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại 91.000.000đ do bị cưỡng chế tháo dỡ tài sản trên đất, và trả lại số tiền tương ứng với diện tích đất ở là 165m² theo HĐ định giá đã định giá lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, HĐXX tiến hành tố tụng đúng quy định, đương sự thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận diện tích đất 99,8m² thuộc quyền sử dụng của ông Lê Văn M theo GCNQSDĐ đã cấp tương ứng thửa 106 diện tích 565m² nên việc ông Nguyễn Hùng T2 đang sử dụng diện tích đất này xem như ông M đã giao cho ông T2 được 99,8m² nêu trên, nên ông M còn giao thiếu 65,2m² thì buộc thanh toán tiền theo giá đã định lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí. Bị đơn kháng cáo quá hạn được TAND tỉnh Phú Yên chấp nhận và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên là kháng cáo hợp lệ được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3:
Căn cứ vào Giấy “giao nhận tiền cọc mua bán đất ở” ngày 22/05/2014 giữa ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y với ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 với nội dung: ông M, bà Y đồng ý sang nhượng cho ông T2, bà T3 01 thửa đất ở với diện tích 250m² (chiều rộng 5m, chiều dài 50m) với giá là 100.000.000đồng, bên ông T2, bà T3 giao cho ông M, bà Y 20.000.000 đồng, tiếp đến ngày 4/7/2014 ông M, bà Y nhận của ông T2, bà T3 số tiền 50.000.000 đồng; tổng cộng 70.000.000 đồng, số tiền còn lại hẹn đến ngày 18/8/2014 sẽ giao đủ. Như vậy đủ cơ sở xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của các bên là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Ông M, bà Y đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất ở và ông T2, bà T3 đã nhận đất. Căn cứ khoản 2, Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không thực hiện việc công chứng, chứng thực” thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên là hợp pháp. Mặc khác tại thời điểm xác lập, giao dịch này có đủ điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời khi hai bên làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/7/2014 với diện tích đất ở 85m², giá thỏa thuận trong hợp đồng này là 25.000.000đ, sau đó ngày 04/7/2014 ông T2, bà T3 giao tiền cho ông M, bà Y 50.000.000đồng (mà vẫn lấy giấy mua bán đất ở viết tay ngày 22/5/2014) để giao dịch việc giao và nhận tiền, điều này thể hiện ý chí giữa hai bên vẫn tuân thủ nguyên tắc giao dịch trong hợp đồng này chứ không bị hủy bỏ như lời trình bày của nguyên đơn ông M, bà Y. Đồng thời theo Công văn số 35/TCKH ngày 27/3/2023 của phòng Tài chính - Kế hoạch huyện P xác định đất ở tại khu vực này vào năm 2014 là 210.000đồng/m², đất HNK là 37.000đồng/m² so với giao dịch của hai bên được thực hiện đối với 250m² đất ở với số tiền 100.000.000đồng là phù hợp với thực tế. Do vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập bằng giấy viết tay ngày 22/5/2014 là có căn cứ. Theo thỏa thuận, ông T2, bà T3 nhận chuyển nhượng của ông M, bà Y diện tích 250m² đất ở nhưng vì điều kiện ông M không đủ đất ở nên mới giao được cho ông T2 85m² đất ở theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/7/2014 nên ông T2, bà T3 yêu cầu ông M, bà Y giao đủ cho hai ông, bà 165m² đất như đo vẽ thực tế xác định (phần diện tích 65,2m² và 99,8 m²), nếu không giao đủ đất ở thì thanh toán chênh lệch giá trị đất ở tương ứng diện tích giao thiếu là có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông M, bà Y yêu cầu ông T2, bà T3 tháo dỡ các công trình trên diện tích đất 99,8m² để trả lại hiện trạng đất, không chấp nhận ý kiến của UBND xã H về việc UBND xã quản lý diện tích đất trên, HĐXX xét thấy: Theo Văn bản số 728/BC-UBND ngày 03/7/2023 của UBND xã thì diện tích đất 99,8m² các bên đang tranh chấp thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 367D là đất QHGT do UBND xã quản lý, tuy nhiên qua đối chiếu bản đồ địa chính 2016, Giấy CNQSDĐ số BT 174335 ngày 18/6/2024 tại Trang 3 có sơ đồ thửa đất, thì diện tích này thuộc thửa 106 diện tích 565m² đất HNK thuộc chỉ giới QHGT; Theo Giấy CNQSDĐ số G 102241 do UBND thị xã T cấp ngày 28/12/1998 cho ông M có thửa 106 diện tích 565m² ĐRM. Việc hiện nay thửa đất này được quy hoạch giao thông thì UBND xã quản lý về mặt hành chính nhưng đất vẫn đang do gia đình ông M được Nhà nước công nhận theo Giấy CNQSDĐ, nên hiện nay việc ông T2 đang sử dụng phần diện tích đất này là đúng theo như thỏa thuận của hai bên tại giấy nhận cọc lô đất có chiều dài N – Bắc dài 50m, chiều rộng Đông Tây dài 05 có giới cận: Bắc giáp Quốc lệ 25, Nam giáp ruộng 02 lúa, Tây giáp ruộng 02 lúa, Tây giáp đất còn lại của ông M, bà Y là phù hợp với hiện trạng sử dụng hiện nay tại phần diện tích A + B, như vậy xem như ông M đã giao cho ông T2 được 99,8m²này. HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa công nhận diện tích đất 99,8m² là đất đã được công nhận cho ông M theo GCN, nên việc ông T2 đang sử dụng đất này được tính là ông M đã giao cho ông T2 nên không chấp nhận việc ông M đòi ông T2 phải trả lại diện tích đất này, ông T2 được tiếp tục quản lý sử dụng đất này nhưng phải chấp hành các quy định của pháp luật về đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông. Còn phần diện tích 65,2m² là đất trồng cây hàng năm khác hiện nay đang do gia đình ông M quản lý, sử dụng nên không thể giao cho ông T2 và bà T3, mà buộc ông M, bà Y phải trả lại giá trị đất ở tại thời điểm hiện tại, theo biên bản định giá của Hội đồng định giá ngày 23/2/2023 xác định giá đất ở tại khu vực này là 1.000.000đồng/m², tại phiên tòa phúc thẩm ngày 09/5/2024, bị đơn yêu cầu định giá lại đối với giá trị đất ở, tại biên bản định giá ngày 11/7/2024, Hội đồng định giá theo giá thị trường là 2.400.000đ/m2 đất ở, do đó phần diện tích ông M, bà Y giao chưa đủ cho ông T2, bà T3 là 65,2m² tương đương giá trị thành tiền 156.4800.000 đồng là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hùng T2 về việc buộc nguyên đơn phải bồi thường thiệt hại số tiền 91.000.000đ, thấy rằng cấp sơ thẩm nhận định không chấp nhận yêu cầu này là có căn cứ do đó kháng cáo không được chấp nhận.
[5] Từ những căn cứ phân tích trên, tại cấp phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu gì khác để chứng minh cho nội dung kháng cáo là có căn cứ, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông M, bà Y. Chấp nhận đề nghị của KSV tại phiên tòa và chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 (do ông Nguyễn C đại diện).
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí DSPT. Chi phí tố tụng khác: Các đương sự chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227,228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117,118,129, 155, 158, 163, 500,584,585,589 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12,24,26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y đối với bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất ” về yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 trả lại diện tích đất 99,8 m², có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất ông Lê Văn M; phía Tây giáp đất trống do UBND xã H quản lý; phía Nam giáp nhà cấp 4 do ông Nguyễn Hùng T2 xây dựng; phía Bắc giáp Quốc lộ B; tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 đối với nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y về việc: “Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y với ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giấy viết tay ngày 22/5/2014. Ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 (do ông Nguyễn C đại diện), ông T2, bà T3 được tiếp tục sử dụng diện tích 99,8m² (diện tích A theo Bản vẽ mặt bằng hiện trạng nhà đất) nhưng phải chấp hành các quy định của pháp luật về đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông. Buộc ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y phải có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 số tiền 156.4800.000 đồng tương ứng với diện tích đất là 65,2m² (là đất ở không giao đủ cho bị đơn).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 đối với nguyên đơn ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y về việc yêu cầu bồi thường “Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”số tiền 91.000.000đồng (chín mươi mốt triệu đồng)
- Về án phí: ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm nhưng do thuộc diện người có công cách mạng và người cao tuổi, nên được miễn án phí.
Ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 phải chịu 4.550.000đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Không phải chịu án phí DSPT nhưng được khấu trừ vào số tiền 900.000đồng (Chín trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà ông T2 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0013611 ngày 16/12/2019, 0010392 và 0004602 cùng ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Hòa. Nên ông T2, bà T3 còn phải tiếp tục nộp số tiền 3.650.000đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng)
- Về chi phí tố tụng khác: chi phí định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ là 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng, trong đó cấp sơ thẩm 9.000.000đ, cấp phúc thẩm 4.000.000đ) ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị Hải Y chịu 6.000.000 đồng; ông Nguyễn Hùng T2, bà Lương Thị T3 chịu 7.000.000đồng. Các bên đã nộp đủ.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 69/2024/DS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp qsdđ; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng qsđ và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản
- Số bản án: 69/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSĐ và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu BĐ trả lại đất và BTTH do xâm phạm QSDĐ, BĐ yêu cầu công nhận QSDĐ do nhận chuyển nhượng
