Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/DS-ST

Ngày: 26-11-2024

V/v: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng
đất do bị lấn, chiếm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hán Văn Mai và bà Lê Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20/5/2024 và ngày 26/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 127/2023/TLST-DS, ngày 07 tháng 7 năm 2023 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn chiếm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 5 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số 01/2024/TB-TA ngày 09/9/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 05/2024/TB-TA ngày 05/11/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Dương Thị M, sinh năm 1945; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: ông Trần Văn N, sinh năm 1957; địa chỉ: phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận - Có mặt.

2. Bị đơn: ông Phạm Minh Quốc T – Sinh năm: 1983; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông (bà):

  • - Nguyễn Thị N1 – Sinh năm: 1977
  • - Nguyễn Văn Đ – Sinh năm: 1968
  • - Nguyễn Văn B – Sinh năm: 1987
  • - Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1963

Cùng địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận

  • - Nguyễn Thị T1 – Sinh năm: 1971
  • - Nguyễn Thị N2 - Sinh năm: 1970

Cùng địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận

  • - Nguyễn Thị N3 – Sinh năm: 1974
  • - Nguyễn Thị H1 – Sinh năm: 1979

Cùng địa chỉ: khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Những người có quyền lợi, nghĩa liên quan cùng ủy quyền cho: ông Trần Văn N, sinh năm 1957; địa chỉ: phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 01/4/2024) – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 22-6-2023 và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P có nguồc do Hợp tác xã giao khoán cho hộ gia đình bà M và các con. Năm 1999 Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà M theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00183/QSDĐ/232/QĐ/H/1999 cấp ngày 19/10/1999.

Sau khi nhận đất, gia đình bà M canh tác liên tục đúng diện tích đất được giao, sau đó cho thuê đất. Năm 2020 khi lấy lại đất sử dụng thì phát hiện ông Phạm Minh Quốc T là người sử dụng đất liền kề xây dựng hàng rào ráp ranh với thửa đất của Hộ gia đình bà M, đồng thời việc xây dựng đã lấn sang đất của Hộ gia đình bà M. Sự việc được bà M trình báo chính quyền địa phương và hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Nay bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước buộc ông Phạm Minh Quốc T là người sử dụng đất liền kề phải tháo dỡ hàng rào, trả lại diện tích đất lấn chiếm là 446m² theo kết quả đo đạc của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh N4 tại trích lục số 1341 ngày 13/6/2022, Trích lục số 153 ngày 28/02/2024 và Trích lục số 1701/2024 ngày 11/9/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4.

2. Bị đơn ông Phạm Minh Quốc T trình bày: ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M vì phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc là 446m² (theo kết quả đo đạc của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh N4 tại trích lục số 1341 ngày 13/6/2022 và Trích lục số 153 ngày 28/02/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4) có nguồn gốc là đất ông nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Văn T2 năm 2016. Khi nhận chuyển nhượng đất của ông T2 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính là thửa đất số 624 tờ bản đồ số 09 xã P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 597047 cấp ngày 10/5/2016. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T xây dựng hàng rào giáp ranh với phần đất của bà Dương Thị M như hiện nay. Việc ông T sử dụng đất là hợp pháp, phù hợp với ranh giới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Trần Văn N là đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

4. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa được tóm tắt như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ Khoản 9 Điều 26; Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ: khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 165, Điều 166, Điều 175, Điều 184 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M.

Buộc ông Phạm Minh Quốc T phải tự tháo dỡ hàng rào và di dời các vật, công trình, cây trồng trên đất để trả lại diện tích đất lấn chiếm là 446m² thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cho hộ gia đình bà Dương Thị M.

Về án phí: ông Phạm Minh Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn chiếm” quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phạm Minh Quốc T có mặt tại phiên tòa ngày 20/5/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 26/11/2024 không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông T.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M yêu cầu ông Phạm Minh Quốc T phải tháo dở hàng rào trả lại diện tích đất lấn chiếm là 446m² đất thuộc thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P thấy:

2.1. Về căn cứ sử dụng đất của hộ gia đình bà Dương Thị M đối với thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P:

Có đủ căn cứ để xác định hộ gia đình bà Dương Thị M sử dụng thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P do Hợp tác giao khoán. Quá trình sử dụng đất đã đăng ký kê khai, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dối với Nhà nước, năm 1999 được Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất, cho hộ gia đình bà Dương Thị M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00183/QSDĐ/232/QĐ/H/1999 cấp ngày 19/10/1999. Như vậy, hộ gia đình bà Dương Thị M là chủ sử dụng đất hợp pháp thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P (được nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất) có các quyền chung của người sử dụng đất quy định tại Điều 26 Luật Đất đai 2024.

2.2. Hiện trạng sử dụng đất thực tế:

Giai đoạn tiền tố tụng và quá trình giải quyết vụ án xác định ông Phạm Minh Quốc T là người đang trực tiếp sử dụng thửa đất số 624 tờ bản đồ số 9 bản

đồ địa chính xã P và một phần diện tích thuộc thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 đã được công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Dương Thị M. Diện tích thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 xã P ông T đang chiếm hữu, sử dụng là 446m² được thể hiện tại trích lục số 153 ngày 28/02/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4 tại vị trí 2,14, 15, 7, 6, 5, 4, 3, 2 và trích lục số 1701 ngày 11/9/2024 tại các vị trí: 8-9-14-31-32-33-34-35.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2023, ông Phạm Minh Quốc T xác định, phần diện tích đất đang tranh chấp do ông T là người trực tiếp quản lý. Hiện trạng phần đất tranh chấp có tường rào xây gạch; Hàng rào lưới B40 trụ gỗ; trên đất có 09 cây dừa mới trồng; 02 cây nem tự mọc; 01 cây tràm tự mọc.

2.3. Xét căn cứ chiếm hữu, sử dụng diện tích 446m² đất thuộc thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P của ông Phạm Minh Quốc T:

Tại phiên tòa ngày 20/5/2024, ông T xác định phần đất tranh chấp với bà Dương Thị M do ông T đang sử dụng, chính là một phần thửa đất số 624 tờ bản đồ số 09 xã P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 597047 do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 10/5/2016 nên ông T là người sử dụng đất hợp pháp, có căn cứ pháp luật. Đây là tình tiết mới phát sinh, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa và thu thập thêm tài liệu chứng cứ.

Về chứng cứ, tài liệu thu thập: Ngày 04/7/2024, Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương, Văn phòng Đ2 – Chi nhánh N4 tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc thửa đất số 624 tờ bản đồ số 9 xã P theo trích lục số 1701 ngày 11/9/2024. Tại trích lục vẫn thể hiện thửa đất số 454 của hộ gia đình bà Dương Thị M có 446m² do ông T đang quản lý, sử dụng. Đối với thửa đất số 624 ông Phạm Minh Quốc T đang sử dụng, hiện trạng sử dụng lệch so với bản đồ địa chính. Để làm rõ nội dung vì sao vị trí theo hiện trạng sử dụng và bản đồ địa chính lại có sự chênh lệch và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 624 có chồng lấn lên thửa đất số 454 của Hộ gia đình bà Dương Thị M không, Tòa án đã có văn bản số 245/TA-VP ngày 01/10/2024 yêu cầu Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4 cung cấp thông tin làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại công văn số 1669/VPĐKĐĐNT-CNNP ngày 31/10/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4 trả lời theo yêu cầu của Tòa án như sau: “Thửa đất số 624 theo đo đạc thực tế tại trích lục số 1701 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh N4 với thửa đất số 624 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 597047 do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 10/5/2016 là cùng một thửa đất, do tại thời điểm đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đo bằng máy Topcom và kéo thước dây để ghép lên bản đồ địa chính nên bộ phận biên tập đã ghép nhầm vị trí thửa đất trên; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 624 tờ bản đồ số 9 xã P không chồng lấn lên thửa 454 tờ bản đồ số 9 của hộ bà Dương Thị M”.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định thửa đất số 624 của ông T nhận chuyển nhượng lại của ông Trịnh Văn Tân thời Đ1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chồng lấn lên thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 của hộ gia đình bà

Dương Thị M. Ông T cho rằng phần đất có diện tích 466m² theo đo đạc của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh N4 đã được công nhận quyền sử dụng đất cho ông T chính là thửa đất số 624 là không có cơ sở chấp nhận.

Xét việc ông T đang sử dụng diện tích 446m² đất thuộc thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã P đã được công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho hộ gia đình bà M từ năm 1999, giữa hộ gia đình bà M với ông T không có một giao dịch chuyển quyền sử dụng đất đối với phần này và cũng không có sự ủy quyền sử dụng đất. Do đó, ông T không có quyền sử dụng đối với phần đất này và thuộc trường hợp chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 165 của Bộ luật Dân sự 2015.

[2.6]. Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể khác có quyền đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Do đó, bà Dương Thị M đại diện hộ gia đình khởi kiện yêu cầu ông Phạm Minh Quốc T là người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản là một phần thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 xã P không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản là có căn cứ chấp nhận. Đối với tài sản trên đất ông T có xây dựng tường rào tại vị trí (8-35) là 35,3m; rào lưới B40 trụ gỗ tại vị trí (35-34) = 3,78m, (34-33) = 29,88m, (33-32) = 5,4m; (31-32) = 0,54m và 09 cây dừa (mới trồng), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hộ gia đình bà Dương Thị M không có nhu cầu sử dụng và có yêu cầu buộc ông T phải tháo dở, di dời nên ông T phải có nghĩa vụ tháo dở hàng rào, di chuyển cây trồng trả lại đất cho hộ gia đình bà Dương Thị M. Đối với tài sản là 02 cây nem tự mọc; 01 cây tràm tự mọc trên đất không xét đến.

[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, trích lục thửa đất bà Dương Thị M đã nộp đủ và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không xét đến.

[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.

[5]. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Điều 5, khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 163, 164, 165, 166, 185 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 11, Điều 26 Luật Đất đai 2024.
  • - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, ngày 30/12/2016 của Ủy ban T3;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị M đối với bị đơn ông Phạm Minh Quốc T.

Buộc ông Phạm Minh Quốc T là người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật diện tích 446m² thuộc thửa đất số 454 tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã phước H2 được xác định theo các vị trí 8, 9, 14, 31, 32, 33, 34, 35 tại trích lục số 153 ngày 28/02/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện N4 phải tháo dở tường rào tại vị trí 8-35 dài 35,3m; hàng rào lưới B40 trụ gỗ tại các vị trí (35-34) = 3,78m, (34-33) = 29,88m, (33-32) = 5,4m; (31-32) = 0,54m và di chuyển 09 cây dừa (mới trồng) trả lại đất cho Dương Thị M và các con gồm: Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị N3 và Nguyễn Thị H1.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Về án phí sơ thẩm: buộc ông Phạm Minh Quốc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Kèm theo Bản án là Trích lục số 1701 ngày 11/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ2 – Chi nhánh huyện N4.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS huyện Ninh Phước;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường

Trần Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn, chiếm.

  • Số bản án: 69/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn, chiếm.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger