|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH GIA LAI Bản án số:68/2024/DS-PT Ngày 24-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Nam
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2023/TLPT-DS ngày ngày 24-3-2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DSST ngày 3 tháng 2 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 22/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1.1 Nguyên đơn: Ngân hàng N4. Trụ sở số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Do ông Lê Minh T, Phó Giám đốc Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện I làm người đại diện theo ủy quyền.
1.2 Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân N (Nguyễn Đức N1); địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Đình Đ; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
1.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị H; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị H:
Chị Nguyễn Thị Vân A; địa chỉ: H đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Ông Trần Đình Đ; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
- Ông Trần Đình M; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
- Bà Nguyễn Thị N2; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Đình M, bà Nguyễn Thị N2:
Ông Trần Đình Đ; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai.
3. Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn là Ngân hàng N4 và người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/01/2017, ông Nguyễn Xuân N vay của Ngân hàng N4 thông qua Ngân hàng N4 chi nhánh huyện I 450.000.000 đồng với lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10%/năm (lãi suất biến đổi); mục đích vay là chăm sóc 15 ha mía; với thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 25/01/2017 theo Hợp đồng tín dụng số 146/17/HĐTD.
Để bảo đảm cho khoản vay, ông Nguyễn Xuân N, bà Trần Thị H đã thế chấp các tài sản theo các Hợp đồng thế chấp tài sản số 330/15 ngày 13/10/2015 và số 334/15/TC ngày 15/10/2015 gồm:
- Quyền sử dụng các thửa đất số 92, 112, 113, 121, 122, 161; tờ bản đồ số 16; thửa đất số 381, 385, 413, 567, tờ bản đồ số 11; thửa đất số 1304, 1337, 1373, tờ bản đồ số 10; thửa đất số 66, 639, 67, 92, 140, 178, 350, 603, 604, 230 tờ bản đồ số 17; thửa đất số 183, 184, 185, 215, 216, 217, 162, 246, tờ bản đồ số 16; tại thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai và tài sản gắn liền trên đất đối với thuộc Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 712160 của ông Trần Đình M. Ngân hàng có thực hiện thẩm định tài sản là nhà và đất khi cho vay, tuy nhiên nhà trên đất này chưa có giấy chứng nhận nhà ở nên Ngân hàng chỉ định giá đất.
- Quyền sử dụng các thửa đất số 1426, 1427 tờ bản đồ số 10 tại thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai và tài sản gắn liền trên đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 546117 ngày 04 tháng 01 năm 2011 ghi tên “hộ ông Nguyễn Đức N1 và bà Trần Thị H”
Các hợp đồng thế chấp đều được lập thành văn bản, có chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho ông N1 theo đúng thỏa thuận bằng Giấy lĩnh tiền vay ngày 25/01/2017. Kể từ khi vay tiền đến nay, ông N1 chỉ trả cho Ngân hàng 71.300.000 đồng tiền nợ gốc và ngày 31/01/2018 ông N1 đã trả được 1.125.000 đồng tiền nợ lãi, sau đó không thanh toán lãi và gốc theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Tính đến thời điểm xét xử, ông N1 còn nợ ngân hàng số tiền 731.719.165 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên nguyên đơn có gia hạn nợ cho bị đơn đến ngày 25/7/2018. Đến hạn trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần mời ông N1, bà H đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không đạt kết quả.
Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Xuân N (Nguyễn Đức N1), bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác tính đến ngày 03/02/2023 cụ thể như sau:
Tổng nợ gốc và lãi phải trả tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 03/02/2023 là 731.719.165 đồng. Trong đó, nợ gốc là 378.700.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 66.452.055 đồng; tiền lãi quá hạn là 286.567.110 đồng.
Trường hợp ông N1, bà H không thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi và các chi phí khác như đã nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý, phát mãi tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 334/15/TC ngày 15/10/2015 để thu hồi nợ.
Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện về buộc ông Trần Đình M phải trả nợ cho ngân hàng và rút yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 330/15/TC ngày 13/10/2015.
2
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Đức N1 trình bày:
Ông chỉ có một tên là Nguyễn Đức N1, ông không vay 450.000.000 đồng của Ngân hàng, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản tự khai ngày 01/12/2020 bà Trần Thị H trình bày:
Chồng bà là Nguyễn Xuân N có vay của ngân hàng số tiền 450.000.000 đồng để đầu tư phát triển sản xuất mía. Qua lục tìm hồ sơ, gia đình bà chỉ có 01 tờ hợp đồng vay vốn Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện I ghi ngày 15/10/2015, tại điều 6 của hợp đồng có ghi 2 hợp đồng bảo đảm số 330/15/TC và 331/15/TC ngày 15/10/2015 nhưng không có kèm theo hợp đồng gia đình bà H đang giữ. Đi cùng với hợp đồng vay vốn ngày 15/10/2015 gia đình bà có nộp cho Ngân hàng 03 sổ đỏ: 01 sổ đỏ đứng tên ông T1, 01 sổ đỏ đứng tên ông N, 01 sổ đứng tên ông G. Đề nghị ngân hàng: Rà soát các giấy tờ liên quan đến hợp đồng vay vốn của gia đình bà H, trên có sở đó phô tô và cung cấp cho gia đình bà H, tạo điều kiện cho gia đình bà được nộp trước 200.000.000 đồng tiền gốc (sau khi gia đình bà nhận được và được xem các giấy tờ liên quan), còn lại 250.000.000 đồng thì tạo điều kiện cho gia đình bà trả nợ vào cuối năm 2021, đầu năm 2022. Xin xem xét giảm lãi, khoanh nợ đến hết tháng 4/2020 và tạo điều kiện cho gia đình trả số tiền lãi còn lại vào cuối năm 2023. Tuy nhiên, tại đơn kiến nghị và đề nghị thu thập chứng cứ ngày 26/4/2021, tại đơn trình báo ngày 27/4/2021 bà H gửi cho Công an tỉnh G và Công an huyện I và tại phiên tòa sơ thẩm bà H trình bày: Hợp đồng tín dụng số 146/17/HĐTD ngày 25/01/2017 là hợp đồng do một số cán bộ ngân hàng tự lập ra. Gia đình bà là nạn nhân, bị lợi dụng một số chữ ký ở các hồ sơ vay vốn trước kia với ngân hàng. Gia đình bà H không có vay của ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 146/17/HĐTD.
- Tại bản tự khai đề ngày 10/12/2020 và tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Đình M trình bày:
Trước đây ông có cho con ông là Nguyễn Đức N1 (Ngân hàng, Tòa án ghi tên Nguyễn Xuân N) mượn 01 sổ đỏ để đi vay tiền ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N4. Ông M nhớ chỉ ký một số giấy tờ (nhưng không nhớ giấy tờ gì) cho con ông vay tiền của ngân hàng với số tiền từ 30 đến 70 triệu đồng, tối đa là 170 triệu đồng, vì con ông nhiều lần làm hợp đồng vay vốn với ngân hàng. Ông không cho mượn sổ đỏ và không ký giấy tờ nào để con ông vay vốn ngân hàng với số tiền 450.000.000 triệu đồng tại hợp đồng vay vốn số 146/17/HĐTD ngày 25/01/2017.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình Đ trình bày: Từ năm 2012 đến 2014 gia đình ông Nguyễn Đức N1, bà Trần Thị H có nhiều lần ký hợp đồng vay vốn với ngân hàng. Hiện tại gia đình ông N1, bà H chỉ nợ của nguyên đơn số tiền khoảng từ 40.000.000 đồng đến 110.00.000 đồng. Còn lại tất cả hợp đồng tín dụng từ năm 2015 đến năm 2017 là do ngân hàng tự lập ra.
Qua việc xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 25/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Ia Pa xác định như sau: Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất số 92, 112, 113, 121, 122, 161, tờ bản đồ số 16; Thửa đất số 381, 385, 413, 567, tờ bản đồ số 11; Thửa
3
đất số 1304, 1337, 1373, tờ bản đồ số 10; Thửa đất số 66, 639, 67, 92, 140, 178, 350, 603, 604, 230 tờ bản đồ số 17; Thửa đất số 183, 184, 185, 215, 216, 217, 162, 246, tờ bản đồ số 16; Địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai thuộc giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 712160 cấp năm 2000 cấp cho ông Trần Đình T2 (được đính chính tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên Trần Đình T2 sang T ngày 22/5/2004); Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00160/QSDĐ/341/2000/QĐ-UB(H). Và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất số 1426, 1427 tờ bản đồ số 10; Địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai, thuộc giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 546117 được cấp ngày 04 tháng 01 năm 2011 cho hộ ông Nguyễn Đức N1 và bà Trần Thị H; Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 00397cấp ngày 04 tháng 01 năm 2011, chưa có phát sinh tranh chấp với bên thứ ba.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DSST ngày 3 tháng 2 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- Áp dụng các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N5 về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Xuân N (Nguyễn Đức N1) và bà Trần Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N4 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi (tính đến ngày 03/02/2023) 731.719.165 đồng, trong đó, nợ gốc là 378.700.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 66.452.055 đồng; tiền lãi quá hạn là 286.567.110 đồng.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Nguyễn Xuân N (Nguyễn Đức N1) và bà Trần Thị H không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng N4, thì Ngân hàng N4 có quyền yêu cầu:
Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của các thửa đất số 1426, 1427 tờ bản đồ số 10; Địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai, thuộc giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 546117 được cấp ngày 04 tháng 01 năm 2011 cho hộ ông Nguyễn Đức N1 và bà Trần Thị H; Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 00397cấp ngày 04 tháng 01 năm 2011 theo đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 334/15/TC ngày 15/10/2015.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N4 về việc yêu cầu ông Trần Đình M phải trả nợ cho ngân hàng và yêu cầu về xử lý tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất số 92, 112, 113, 121, 122, 161, tờ bản đồ số 16; Thửa đất số 381, 385, 413, 567, tờ bản đồ số 11; Thửa đất số 1304, 1337, 1373, tờ bản đồ số 10; Thửa đất số 66, 639, 67, 92, 140, 178, 350, 603, 604, 230 tờ bản đồ số 17; Thửa đất số 183, 184, 185, 215, 216, 217, 162, 246, tờ bản đồ số 16; Địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai thuộc giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 712160 cấp năm
4
2000 cấp cho ông Trần Đình T2 (được đính chính tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên Trần Đình T2 sang T ngày 22/5/2004);
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm; nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; nghĩa vụ chịu lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; thông báo quyền tự nguyện, thỏa thuận hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, Bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Lý do kháng cáo: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khẳng định họ không có thực hiện bất kỳ khoản vay nào với mức vay 450.000.000 đồng tại Ngân hàng. Phía Nguyên đơn cung cấp hồ sơ giấy tờ hợp đồng vay chứng minh việc họ ký vào hợp đồng vay nhưng thực chất đây là hợp đồng giả mạo do Nguyên đơn tự lập (ngân hàng đã lợi dụng sự không hiểu biết pháp luật, sự không để ý, không đọc hợp đồng vay, không đọc hợp đồng thế chấp và chữ ký của gia đình tôi để làm giả/làm khống hồ sơ giấy tờ hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp tài sản). Đồng thời, phía nguyên đơn chỉ cung cấp tài liệu hồ sơ của hợp đồng chứ không cung cấp hình ảnh chứng minh việc bị đơn nhận tiền tại Ngân hàng diễn ra vào ngày 25/01/2017. Tòa án cấp sơ thẩm cũng không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ về hình ảnh nhận tiền của bị đơn; không thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh việc nguyên đơn nhiều lần mời bị đơn làm việc về khoản vay.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bà Trần Thị H giữ kháng cáo.
- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm ngừng phiên tòa để thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến 3 giấy chứng minh nhân dân đã cấp cho ông N1;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tham gia tố tụng, phía bị đơn không thừa nhận vay 450.000.000 đồng của Ngân hàng và cho rằng các chứng cứ do Ngân hàng giao nộp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện về buộc bị đơn phải trả nợ gồm Hợp đồng tín dụng số 146/17/HGĐTD ngày 25-1-2017 (bút lục số ), “Giấy đề nghị vay vốn (dùng cho hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác thực hiện vay vốn có đảm bảo bằng tài sản)” đề ngày 25-1-2017 (bút lục số ) và “Giấy lĩnh tiền vay” đề ngày 25-1-2017 (bút lục số ) là chứng cứ giả mạo; ông N1 có tên đầy đủ là “Nguyễn Đức N1” với Chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh G cấp ngày 23-10-2015, đây cũng là tên của ông N1 trên các giấy tờ tùy thân như Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tên “Nguyễn Đức NI” với Chứng minh nhân dân số [...] này cũng đã từng được ông N1 sử dụng khi giao dịch với Ngân hàng ngày 31-3-2015 và trước đó nữa.
Xét thấy các lý do phản đối của bị đơn là không có căn cứ, bởi lẽ:
5
- Tại kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 9-9-2022, Phòng K Công an tỉnh G đã kết luận chữ ký, chữ viết họ tên “ngự - nguyễn Xuân ngự” và “H - TRần Thị Hạnh" tại Hợp đồng tín dụng số 146/17/HGĐTD ngày 25-1-2017, tại “Giấy đề nghị vay vốn (dùng cho hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác thực hiện vay vốn có đảm bảo bằng tài sản)” đề ngày 25-1-2017 và tại “Giấy lĩnh tiền vay” đề ngày 25-1-2017 với chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Đức N1 trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.
Các chữ ký, chữ viết làm mẫu so sánh để Phòng K Công an tỉnh G kết luận như nêu trên được thu thập từ chính các hồ sơ tín dụng năm 2012, 2015 mà phía bị đơn thừa nhận, cũng như hồ sơ thủ tục đề nghị phát hành thẻ ghi năm 2019 và thông tin từ hồ sơ khai căn cước công dân năm 2021 của ông N1; các đơn thư kiến nghị, cầu cứu, trình báo năm 2020 của bà H.
- Tại Văn bản số 06/PC06-D6 ngày 20/9/2021, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh G đã tra cứu tàng thư căn cước công dân và xác nhận:
- Số chứng minh nhân dân [...] cấp cho ông Nguyễn Xuân N, SN 02/1982. Cấp ngày 19/9/1999.
- Số CMND: [...] cấp cho ông: Nguyễn Đức N1; SN 06/01/1982; cấp ngày 24/09/1997. (có bản phô tô tờ khai CMND của 02 số trên kèm theo). Qua kiểm tra đối chiếu thông tin và dấu vân tay của 02 số CMND nói trên và bản phô tô CMND cấp ngày 23/10/2015 là của một người.
Từ trước đến nay ông Nguyễn Xuân N chưa thay đổi thông tin cá nhân.
Do đó, có cơ sở để khẳng định ngày 25-1-2017, ông N bà H vay 450.000.000 đồng của Ngân hàng.
Các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự xuất trình và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện, Ngân hàng đã giải ngân cho bị đơn 450.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền vay, bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng như thỏa thuận, nên đã vi phạm điều khoản thanh toán được quy định tại hợp đồng tín dụng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng số 146/17/HGĐTD ngày 25-1-2017 và thực tế khách quan là bị đơn chưa trả hết nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng 378.700.000 đồng nợ gốc; 66.452.055 đồng lãi trong hạn; 286.567.110 đồng lãi quá hạn và quyết định Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản mà bị đơn đã thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 334/15/TC ngày 15/10/2015 để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầu đủ khoản nợ đã nêu, là có căn cứ và đúng pháp luật, phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ.
[2] Tuy nhiên, tại Công văn số 140/PC06 ngày 29 tháng 1 năm 2024, Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh G cho rằng các thông tin mà đơn vị này cung cấp cho Tòa án tại Văn bản số 06/PC06-D6 ngày 20/9/2021 chỉ là trao đổi thông tin để Tòa án cấp sơ thẩm tham khảo, không có tính pháp lý trong tố tụng, đồng thời đính chính, bổ sung lại nội dung Văn bản số 06/PC06-D6 ngày 20/9/2021 như sau:
“- Số CMND: [...] cấp cho ông: Nguyễn Xuân N, SN 02/1982.
6
Cấp ngày 19/9/1999 (Cấp lần đầu)
- Số CMND: [...] cấp cho ông: Nguyễn Đức N1; SN 06/01/1982; cấp ngày 24/09/1997 (Cấp lần đầu).
(có bản phô tô tờ khai chứng minh nhân dân của 02 trường hợp trên gửi kèm)”.
Đây là tài liệu mới xuất hiện sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và ra bản án sơ thẩm, mà Tòa án cấp sơ thẩm không thể biết, do đó, không thể thực hiện được đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết để làm rõ các nội dung mới được Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh G cung cấp về tên và số chứng minh nhân dân của bị đơn.
Việc làm rõ họ tên Nguyễn Đức Ngự/Nguyễn Xuân N3 với các số chứng minh nhân dân khác nhau nêu trên là một trong các căn cứ cần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ án, tuy tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định dấu vân tay trên các giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 23-10-2015; giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 19-9-1999 và giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 24-9-1997, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc làm rõ họ tên Nguyễn Đức Ngự/Nguyễn Xuân N3 với các số chứng minh nhân dân khác nhau và việc trưng cầu giám định dấu vân tay trên các giấy chứng minh nhân dân không thể thực hiện bổ sung được tại phiên tòa phúc thẩm.
Thấy rằng, do xuất hiện tình tiết, chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm, nên việc thu thập chứng cứ và chứng minh tại giai đoạn sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà không thể thực hiện bổ sung được, do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Từ các đánh giá, phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Án phí phúc thẩm:
Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DSST ngày 3 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Ia Pa giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Trần Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho bà
7
Trần Thị H 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0000636 ngày 14-2-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Lê Đình Nam |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Gia Lai;
- - TAND huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai;
- - Chi cục THADS huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự, Văn thư.
8
Bản án số 68/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 68/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu ông N trả nợ gốc và lãi
