TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 69/2023/HS-ST Ngày 21 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Công Hiến.
- Ông Hà Xuân Ninh.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/TLST- HS ngày 16/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST- HS ngày 08/11/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn N, tên gọi khác: không, sinh năm 1983 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm I, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn K và bà Vũ Thị N1; vợ Nguyễn Thị H (đã chết) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 62, ngày 05/6/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt Cao Văn N 24 tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 23/9/2008; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Cao Văn K, sinh năm 1957; nơi cư trú: xóm I, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.
Người làm chứng: ông Dương Văn G và anh Nguyễn Tòng K1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Văn N sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 đến nay. Do không có công việc ổn định, bản thân bị mắc bệnh suy thận mãn tính nên N nẩy sinh ý định đi mua ma túy về bán kiếm lời. Ngày 18/4/2023, N thuê xe taxi (không nhớ hãng xe và biển kiểm soát) đi từ nhà ở xóm I, xã G, huyện G đến khu vực vườn hoa thuộc địa phận thành phố P, tỉnh Hà Nam, mua 01 gói ma túy, loại heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 5.000.000 đồng. Sau đó N mang về nhà, lấy ra một phần ma túy chia thành 18 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng. Sau khi chia xong ma túy, N bỏ toàn bộ 18 gói ma túy và số ma túy còn lại cất giấu vào 01 balo mầu đen nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 19/4/2023, N mang chiếc balo mầu đen bỏ lên chiếc ghế phụ trong xe ô tô biển kiểm soát 29A- 463.50 rồi điều khiển xe ô tô chở ông Cao Văn K (là bố đẻ của N) đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để hỗ trợ N chạy thận. Sau khi chạy thận xong, N điều khiển xe ô tô chở ông K ngồi hàng ghế sau đi về nhà. Khoảng 11 giờ 05 phút cùng ngày, khi N điều khiển xe ô tô đi về đến khu vực trục đường hồ Đ, thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G thì có một nam thanh niên không quen biết điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (N không nhớ biển kiểm soát) đến gần xe ô tô của N và hỏi mua 200.000 đồng Heroine. N đồng ý, cầm số tiền 200.000 đồng rồi lấy từ trong balo mầu đen ra 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng đưa cho nam thanh niên. Sau khi mua được ma túy, nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi mất. N tiếp tục điều khiển xe ô tô đi về, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, có một nam thanh niên không quen biết điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter mầu trắng (Nam không nhớ biển kiểm soát) chặn đầu xe ô tô của N để hỏi mua ma túy. N đồng ý và lấy 01 gói ma túy trong balo đưa cho nam thanh niên. Đúng lúc đó, lực lượng Công an xã G đến yêu cầu kiểm tra. Nam thanh niên mua ma túy điều khiển xe mô tô đi mất. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, N đã tự nguyện lấy từ trong chiếc balo mầu đen để ở ghế phụ bên tay lái ra giao nộp cho lực lượng Công an 16 gói nhỏ đều gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng và một túi nilon mầu trắng, miệng túi có đường viền mầu đỏ, bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng. N khai nhận đều là ma túy, loại Heroine, N cất giấu bán cho các con nghiện kiếm lời. Lực lượng Công an đã thu giữ và niêm phong 16 gói ma túy và 01 túi nilon có đặc điểm như trên của N. Ngoài ra còn thu giữ 01 balo mầu đen loại dây đeo hai vai, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ mầu xanh đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sasung A03S đã qua sử dụng, 01 xe ô tô biển kiểm soát 29A- 463.50 và số tiền 200.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại xóm I, xã G, huyện G, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột mầu trắng trong 01 túi nilon mầu trắng và 16 gói nhỏ thu giữ của Cao Văn N. Cụ thể như sau: túi nilon mầu trắng có khối lượng 8,153gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1. Gói nhỏ thứ nhất có khối lượng là 0,071gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M2. Gói nhỏ thứ hai có khối lượng là 0,075gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M3. Gói nhỏ thứ ba có khối lượng là 0,067gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M4. Gói nhỏ thứ tư có khối lượng là 0,069gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M5. Gói nhỏ thứ năm có khối lượng là 0,076gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M6. Gói nhỏ thứ sáu có khối lượng là 0,069gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M7. Gói nhỏ thứ bẩy có khối lượng là 0,074gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M8. Gói nhỏ thứ tám có khối lượng là 0,061gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M9. Gói nhỏ thứ chín có khối lượng là 0,077gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M10. Gói nhỏ thứ mười có khối lượng là 0,070gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M11. Gói nhỏ thứ mười một có khối lượng là 0,047gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M12. Gói nhỏ thứ mười hai có khối lượng là 0,086gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M13. Gói nhỏ thứ mười ba có khối lượng là 0,081gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M14. Gói nhỏ thứ mười bốn có khối lượng là 0,054gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M15. Gói nhỏ thứ mười lăm có khối lượng là 0,063gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M16. Gói nhỏ thứ mười sáu có khối lượng là 0,066gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M17. Để gửi đi cân xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 343/KL-KTHS-MT ngày 28/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh N, kết luận:
Các mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17 có khối lượng như sau: M1 có khối lượng 8,1544gam; M2 là 0,0681gam; M3 là 0,0735gam; M4 là 0,0662gam; M5 là 0,0689gam; M6 là 0,0754gam; M7 là 0,0671gam; M8 là 0,0742gam; M9 là 0,0615gam; M10 là 0,0758 gam; M11 là 0,0701gam; M12 là 0,0459gam; M13 là 0,0825gam; M14 là 0,0801gam; M15 là 0,0540 gam; M16 là 0,0621gam và M17 là 0,0670gam.
Tổng khối lượng chất bột dạng cục mầu trắng trong các mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17 là 9,2468gam.
Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17 đều là ma túy, loại Heroine.
Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 72/CT-VKS-GV ngày 16/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Cao Văn N ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Cao Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Văn N từ 08 năm tù đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 343/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17, có khối lượng 8,5326gam, đều là chất ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 16 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (13,5x8,5)cm, miệng túi có đường viền mầu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo N bán ma túy vào ngày 19/4/2023; Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ mầu xanh đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S đã qua sử dụng cho bị cáo Cao Văn N; Đối với 01 balo mầu đen là tài sản của bị cáo N, do balo đã cũ bị cáo N không có yêu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Văn N.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo suy thận mãn tính đang phải chạy thận nhân tạo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 343/KL-KTHS-MT ngày 28/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ 11 giờ 05 phút đến 11 giờ 30 phút, ngày 19/4/2023, tại khu vực trục đường Đ thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G, Cao Văn N có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại heroine cho nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 200.000đ và 01 gói ma túy cho một nam thanh niên chưa kịp lấy tiền, thì bị lực lượng Công an xã G phát hiện bắt quả tang thu giữ số lượng ma túy 9,2468gam heroine bị cáo N cất giấu trong chiếc ba lô và bị cáo khai nhận để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác để kiếm lời.
[2] Bị cáo N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác và tàng trữ nhằm bán cho người khác kiếm lời là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.
Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
i, H1, C, Methamphetamine, Amphetamien, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghể hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, hành vi bán trái phép ma tuý loại Heroine của N cho hai nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ và hành vi cất giấy trái phép chất ma túy loại Heroine của Nam nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo suy thận mãn tính đang phải chạy thận nhân tạo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo N có nhân thân xấu đã bị tòa án xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo N đã tàng trữ và bán cho người khác để kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ xung: gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo suy thận mãn tính đang phải chạy thận nhân tạo, mục đích bán ma túy lấy tiền mua ma túy để sử dụng cho bản thân, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với 01 phong bì ghi số 343/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17, có khối lượng 8,5326gam, đều là chất ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 16 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (13,5 x 8,5)cm, miệng túi có đường viền mầu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng. Do vậy căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ mầu xanh đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra xác định là tài sản của Cao Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo N; Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 29A- 463.50, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Cao Văn K, sinh năm 1957, trú tại xóm I, xã G, huyện G (là bố đẻ của N). Ngày 19/4/2023, N điều khiển xe ô tô chở ông K xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh N hỗ trợ bị cáo N chạy thận. Việc N cất giấu ma túy trên ô tô để bán, ông K không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe ô tô cho ông K là phù hợp quy định của pháp luật; Đối với số tiền 200.000 đồng do N bán ma túy vào ngày 19/4/2023 mà có, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; Đối với 01 balo mầu đên là tài sản của N, do balo đã cũ nên N không có yêu cầu nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với ông Cao Văn K (là người đi cùng ô tô với Nam ngày 19/4/2023), việc N cất giấu và bán trái phép ma túy, ông K không biết. Do đó không có cơ sở xử lý đối với ông K.
Đối với hai nam thanh niên đã mua ma túy của N vào ngày 19/4/2023 (theo lời khai của N). Do N không biết tên, tuổi, địa chỉ của nam thanh niên này nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N vào ngày 18/4/2023 (theo lời khai của N). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không đủ căn cứ xác định, xử lý.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[9] Về án phí: bị cáo Cao Văn N thuộc hộ nghèo được UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận hộ nghèo, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Văn N.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Cao Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: bị cáo Cao Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 343/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M17, có khối lượng 8,5326gam, đều là chất ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 16 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (13,5x8,5)cm, miệng túi có đường viền mầu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 balo mầu đen.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ do bị cáo bán ma túy mà có.
- Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ mầu xanh đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S đã qua sử dụng;
Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2023 và giấy ủy nhiệm chi ngày 30/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.
3. Về án phí: miễn án phí hành sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Văn N.
Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 69/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Văn Nam PT mua bán trái phép chất ma túy
