Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/DS-PT

Ngày: 29 - 11 - 2023

V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hàng Lâm Viên

Các Thẩm phán: Bà Ninh Thị Kiều Hạnh

Bà Phạm Thị Anh Trang

– Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Vân Nha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:

Ông Nguyễn Hồng Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 40/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2023/DS-PT ngày 31 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1970 (có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Trần Danh L, sinh năm 1967 (có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Bùi Thị D, sinh năm 1967 (có mặt tại phiên tòa).
  • Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  • + Bà Phan Thị D1, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Bà Phan Thị T1, sinh năm 1965, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
  • Cùng địa chỉ: Xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  • + Ông Phan Văn L1, sinh năm 1973 (có mặt tại phiên tòa).
  • + Bà Phan Thị T2, sinh năm 1976 (có mặt tại phiên tòa).
  • + Bà Phan Thị N, sinh năm 1978 (có mặt tại phiên tòa).
  • Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  • + Bà Phan Thị L2, sinh năm 1981 (có mặt tại phiên tòa).
  • Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  • + Bà Phan Thị L3, sinh năm 1984 (có mặt tại phiên tòa).
  • + Ông Trần Văn H, sinh năm 1992 (có mặt tại phiên tòa).
  • + Bà Trần Thị H1, sinh năm 1998 (có mặt tại phiên tòa).
  • + Ông Trần Văn S, sinh năm 1994 (có mặt tại phiên tòa).
  • Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  • + Bà Trương Thị Vân T3, sinh năm 1961 (vắng mặt tại phiên tòa).
  • Địa chỉ: Số E Bà T, khu phố B, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Người kháng cáo: Bà Bùi Thị D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:

Năm 1988, cha mẹ của bà là ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị B được nhà nước cấp 01 lô đất tại thôn T, xã H (nay thuộc thôn T, xã H) diện tích khoảng 2000m², sau đó gia đình bà khai phá thêm khoảng 500m² đất giáp đường liên thôn. Ngày 20/7/1994, cha mẹ bà đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ đối với phần diện tích 2.000m². Ngày 01/04/1995, ông Q làm văn bản tặng cho vợ chồng bà T phần đất còn lại tiếp giáp đường liên thôn H và M có diện tích khoảng 500m² có sự xác nhận của ông Trần Văn C - nguyên đội trưởng đội sản xuất thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi được tặng cho, bà T khai phá thêm ra phía mặt đường và quản lý cho đến nay.

Năm 2003, vợ chồng ông Q, bà B sang nhượng cho bà Trương Thị Vân T3 diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận là 2000m². Khoảng từ năm 2020, gia đình ông Trần Danh L cho rằng đã nhận sang nhượng của bà Trương Thị Vân T3 toàn bộ thửa đất 117 và 118 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và tranh chấp đất với gia đình bà.

Qua xem xét thẩm định tại chỗ phần diện tích đất mà cha mẹ bà đã tặng cho vợ chồng bà có diện tích 790,4m² thuộc thửa đất số 117 và 14,8m² thuộc thửa 118 tờ bản đồ số 58 thuộc thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và hiện đang tranh chấp với ông Trần Danh L. Bà T tranh chấp được quyền sử dụng thửa đất số 117 vì khi bà thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị vợ chồng ông Trần Danh L tranh chấp.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Danh L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D trình bày:

Năm 2013, vợ chồng ông Trần Danh L, bà Bùi Thị D (vợ chồng ông L) nhận sang nhượng toàn bộ diện tích đất của bà Trương Thị Vân T3. Bà T3 giao cho vợ chồng ông L giấy sang nhượng đất giữa vợ chồng ông Q, bà B với bà T3, ghi rõ lô đất tiếp giáp với đường H - M. Bà Trương Thị Vân T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó mới chuyển nhượng cho vợ chồng ông L. Khi tiến hành cấp đổi GCNQSDĐ, vợ chồng ông L chỉ được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 118 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Thửa đất số 117 chưa được cấp GCNQSDĐ.

Bà Phan Thị T cho rằng phần đất có diện tích 790,4m² thuộc thửa đất số 117 và 14,8m² thuộc thửa 118, tờ bản đồ số 58 thuộc thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận là của bà T là hoàn toàn không đúng bởi căn cứ vào giấy sang nhượng đất vào ngày 01/07/2003 thì ông Phan Văn Q đã sang nhượng toàn bộ đất tiếp giáp trực tiếp với đường H - M cho bà Trương Thị Vân T3 và bà T3 chuyển nhượng toàn bộ đất cho vợ chồng ông L. Ông Trần Danh L, bà Bùi Thị D không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T. Quá trình giải quyết, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị D1, bà Phan Thị T1, ông Phan Văn L1, bà Phan Thị T2, bà Phan Thị N, bà Phan Thị L2, bà Phan Thị L3 trình bày:

Phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Phan Thị T và ông Trần Danh L là của cha mẹ là ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị B. Ông Q và bà B đã tặng cho vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Phan Thị T vào năm 1995. Hiện ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị B đã chết, anh chị em không có tranh chấp đất gì với bà Phan Thị T. Bà Phan Thị D1 và bà Phan Thị T1 xin xét xử vắng mặt. Bà Phan Thị T1, ông Phan Văn L1, bà Phan Thị T2, bà Phan Thị N, bà Phan Thị L2, bà Phan Thị L3 vẫn giữ nguyên ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1, ông Trần Văn H, ông Trần Văn S trình bày:

Cha của ông bà là ông Trần Văn Đ, mẹ là bà Phan Thị T. Năm 2013, ông Đ đã chết không để lại di chúc. Năm 1995, ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị B đã tặng cho cha mẹ ông bà phần đất diện tích 805,2m² toạ lạc tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và hiện đang tranh chấp với ông Trần Danh L.

Bà Phan Thị T đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất cho bà T thì bà Trần Thị H1, ông Trần Văn H, ông Trần Văn S có ý kiến: Đồng ý tặng cho bà Phan Thị T kỷ phần di sản được hưởng mà ông Đ để lại trong phần diện tích đất trên.

Quá trình giải quyết người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Vân T3 trình bày:

Năm 2003, bà T3 nhận sang nhượng của ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị B 01 lô đất có chiều ngang là 27 mét, diện tích khoảng 2500m² có tứ cận: Đông và N1 giáp nhà dân; Tây giáp đường M; Bắc giáp nhà dân. Hai bên có làm giấy tờ sang nhượng, do chưa có GCNQSDĐ. Lô đất nhận chuyển nhượng tiếp giáp trực tiếp với đường H - M. Sau khi sang nhượng đất thì bà có làm nhà sát mép đường, nên địa phương không cho mà yêu cầu bà phải làm nhà thụt lùi phía sau trụ điện.

Đến năm 2008 bà và vợ chồng ông Q mới ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ 00 với diện tích 2698m². Năm 2013 bà có sang nhượng cho ông L 01 thửa đất số 118 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Ngoài thửa đất trên bà không chuyển nhượng cho ông L bất cứ thửa nào khác.

Nay bà Phan Thị T và ông Trần Danh L tranh chấp diện tích đất 805.2m² thuộc thửa 117 và thửa 118 tờ bản đồ số 58 thuộc thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận thì bà xác định phần đất mà bà nhận chuyển nhượng của ông Q và bà B trực tiếp giáp đường H - M, khi bà làm nhà ở thì chính quyền địa phương đã yêu cầu bà làm thụt lùi 20m phía sau trụ điện. Khi bà sang nhượng cho ông L có căn nhà và phần đất trước nhà 20m tính từ mép đường vào. Vì bận công việc nên bà đề nghị Tòa án cho bà vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 271, 273 và 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, 468, 609, 612, 613, 623, 649, 651 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 156, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 99, 101 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ khoản 5 Điều 20, 21, khoản 4 điều 22 của nghị quyết 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai.

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Úy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Bà Phan Thị T được quyền sử dụng phần diện tích đất 790,4m² (trong đó có 220,1m² đất thuộc hành lang tỉnh lộ 709 và 50,7m² đất thuộc hành lang lưới điện) thuộc thửa đất số 117 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, (theo vị trí các điểm ABCEG) mục đích sử dụng là HNK, có tứ cận: Đông giáp thửa 118; Tây giáp tỉnh lộ 709; Nam giáp đường đất; Bắc giáp thửa đất số 60 (Có sơ đồ kèm theo).

Bà Phan Thị T được quyền liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối phần diện tích 14,8m² thuộc thửa 118, tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, bà Bùi Thị D kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ninh Sơn, theo hướng công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn 790,4m² thuộc thửa đất số 117 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa. Phiên tòa được mở lần thứ hai, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
  • - Người kháng cáo không xuất trình được chứng cứ để chứng minh có quyền sử dụng đối với thửa đất số 117 tờ bản đồ số 58 tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trương Thị Vân T3 nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Thị B thửa đất số 118, sau đó bà T3 chuyển nhượng lại cho ông Trần Danh L đúng diện tích, ranh và mốc giới thửa đất số 118 nên Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị T là có căn cứ (Bà T được ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Thị B chuyển giao quyền sử dụng đất). Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của bà Bùi Thị D; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng

[1.1] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ đứng tên ông Trần Danh L nhưng ông L với bà D là vợ chồng nên bà D có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Bà D kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, chấp nhận quyền sử dụng đất thửa số 117, tờ bản đồ số 58 thôn T, xã H, huyện N, diện tích 709,4m² cho vợ chồng bà D, ông L vì diện tích đất này vợ chồng bà D, ông L nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị Vân T3.

[1.2] Nguyên đơn – Bà Phan Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà T không kháng cáo bản án sơ thẩm.

[1.3] Các đương sự không thỏa thuận giải quyết vụ án. Người kháng cáo - Bà Bùi Thị D tranh luận cho rằng bà Trương Thị Vân T3 chuyển nhượng cho vợ chồng bà D cả hai thửa đất số 117 và 118 cùng tờ bản đồ số 58, thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo giấy sang nhượng đất được lập ngày 01/7/2003 (bút lục số 76). Nguyên đơn – Bà Phan Thị T tranh luận cho rằng cha, mẹ bà đã chuyển giao thửa đất số 117 cho bà T sử dụng từ thời điểm cha, mẹ bà còn sống.

[2] Xét nội dung kháng cáo

[2.1] Các đương sự thừa nhận nguồn gốc các thửa đất số 117, 118 cùng tờ bản đồ số 58, thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận là của vợ chồng ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Thị B (cha, mẹ của bà Phan Thị T).

[2.2] Người kháng cáo - Bà Bùi Thị D cho rằng vợ chồng ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Thị B (vợ chồng ông Q) chuyển nhượng đất cho bà Trương Thị Vân T3 (bà T3) sau đó bà T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Trần Danh L, bà Bùi Thị D (vợ chồng bà D).

[2.3] Nguyên đơn – Bà Phan Thị T cho rằng vợ chồng ông Q chỉ chuyển nhượng cho bà T3 thửa đất số 118, sau đó bà T3 chuyển nhượng cho vợ chồng bà D. Thửa đất số 117 thì vợ chồng ông Q tặng, cho bà Phan Thị T. Vợ chồng ông Q không chuyển nhượng thửa đất số 117 cho bà T3.

[2.4] Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà Trương Thị Vân T3 có biên bản kiểm tra ranh, mốc giới, diện tích, tứ cận trong đó hướng nam giáp đường đất, hướng bắc giáp thửa đất của bà Y, hướng đông giáp thửa đất của ông H2, hướng tây giáp thửa đất chưa sử dụng. Vậy nên, bà D căn cứ vào giấy sang nhượng đất giữa vợ chồng bà B với bà T3 (bút lục số 76) để cho rằng hướng tây thửa đất vợ chồng bà D nhận chuyển nhượng của bà T3 giáp đường H - N là không có căn cứ. Mặt khác, giấy sang nhượng đất (bút lục số 76) được lập ngày 01/7/2003 nhưng đến năm 2008, bà T3 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 diện tích 2.698m² loại đất trồng cây hàng năm khác và căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này, bà T3 chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà D đúng diện tích, cự ly cạnh, ranh và mốc giới thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 58, thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, diện tích 2.742m² nên bà D, ông L cho rằng có quyền sử dụng cả hai thửa đất số 117 và 118 tờ bản đồ số 58, thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 118 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Trần Danh L, bà Bùi Thị D trên cơ sở đánh giá chứng cứ hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà Trương Thị Vân T3 với ông Trần Danh L là đúng.

[2.5] Những người thừa kế của vợ chồng ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Thị B thừa nhận vợ chồng ông Q, bà B khi còn sống đã chuyển giao quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị T, họ không tranh chấp quyền lợi với bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 117 thuộc quyền sử dụng của bà Phan Thị T là có căn cứ.

[2.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phan Thị T cũng như ông Trần Danh L, bà Bùi Thị D xác định trên thửa đất số 117 tờ bản đồ số 58, thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận không có công trình, vật kiến trúc hoặc tài sản của vợ chồng ông L, bà D. Ông L, bà D xác định hiện nay không chiếm hữu, không sử dụng thửa đất số 117 nên Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên nghĩa vụ giao trả đất là đúng.

[2.7] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm giải quyết vụ án đúng pháp luật nên chấp nhận quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên; Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị D; Giữ nguyên bản án sơ thẩm kể cả phần án phí cũng như chi phí tố tụng.

[3] Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm:

Kháng cáo của bà Bùi Thị D không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên bà D phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 308 khoản 1 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Bùi Thị D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bà Bùi Thị D phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006251 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Bà Bùi Thị D đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/11/2023).

Nơi nhận:

  • - TAND huyện N;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện N;
  • - Các đương sự (14);
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và THA;
  • - Phòng HCTP;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký và đóng dấu)

Hàng Lâm Viên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 69/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T và ông Trần Danh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger