|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 69/2022/HS-ST Ngày 24-8-2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Hưng
Ông Cụt Xuân Ninh
Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: V V D, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1987 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản M, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V H Th và con bà V Th Tr; vợ: Ch Th K A (Đã ly hôn), con: Có 01 con; Tiền án, Không; Tiền sự: Năm 2019 Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 08 tháng đến ngày 17/11/2020 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 5 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Tr V Ng. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 5 năm 2022, V V D xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết từ nhà ở bản M, thị trấn Th Gi, huyện T D đến khu vực bản Đ, xã L M, huyện T D mục đích tìm mua ma túy sử D. Khi đến khu vực bản Đ thì D nói người đàn ông đi xe máy dừng và xuống xe, sau đó đi bộ vào trong bản Đ, trên đường đi thì gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng bên đường. D đi lại gần bắt chuyện rồi hỏi người đàn ông “Có ma túy bán không?”, người đàn ông trả lời “có”, nghe người đàn ông nói vậy D nói “Bán cho hai trăm nghìn tiền Heroine”, đồng thời lấy trong người ra 200.000đ đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền rồi đi đâu đó một lúc quay lại đưa cho D 01 gói Heroine bằng bao potylen màu trắng. D cầm gói Heroine rồi mở lấy ra một ít Heroine sử D ngay tại chỗ, số Heroine còn lại D gói lại như ban đầu cầm ở lòng bàn tay phải rồi xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi về. Khi đến bản C R 1, xã X L, huyện T D thì xuống xe. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi V V D đang đi bộ tại bản C R 2, xã X L, huyện T D thì bị tổ công tác công an huyện T D đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra công an phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của V V D đang cầm 01 gói bằng bao potylen màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, V V D khai nhận gói chứa chất bột màu trắng là Heroine của D mua về để sử D.
Kết luận giám định số 638/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 17/5/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của V V D gửi tới giám đi là ma tuý (Heroine) có khối lượng 0,3g (Không phẩy ba gam).
Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-TD ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố V V D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụngụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: V V D mức án từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,3g Heroine (Đã lấy 0,2 để đi giám định).
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V V D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 11/5/2022, tại bản C R, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An, Công an huyện T D đang làm nhiệm vụ kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang V V D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3 gam ma túy Heroine với mục đích để sử D. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho D, do D không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[7] Xử lý vật chứng: 0,3g Heroine (đã lấy 0,2g đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử D cần tịch thu tiêu hủy;
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo V V D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: V V D 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận số 93 ngày 26.7.2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo V V D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 24/8/2022.
|
Nơi nhận : - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND thị trấn Th Gi; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |
Bản án số 69/2022/HS-ST ngày 24/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 69/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
