|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 69/2021/HSST Ngày: 29-6-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và Ông Nguyễn Hữu Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-HS ngày 17/5/2021 đối với:
*Bị cáo: ĐỖ TÂN THANH N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/12/1999 tại tỉnh Quảng Trị; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 197440138; Cấp ngày: 20/3/2015; Nơi cấp: Công an tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT: Khu phố 2, phường H1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở: Tổ 10 thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Tân Vinh H2 và bà Trần Thị Thanh T1 (đều còn sống); Gia đình có hai anh em, bị cáo là con đầu.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân:
- Ngày 23/5/2015 bị Công an thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 08/7/2015 bị Công an thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 30/7/2015 bị Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 15/5/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 15/11/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
(Thời điểm thực hiện hành vi và bị xử lý, bị cáo chưa thành niên). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/11/2020, có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại:
- Lê Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ 79 phường K1, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Trần Thị Y, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ 09 phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Quốc Đ, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xã A, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Hồ Văn H3, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thị trấn V1, huyện V1, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
- Trương Văn Đ1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Phòng trọ số 08-A123, phường Đ2, quận M1, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Đỗ Vũ T2, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 56 đường Đ3, phường N1, quận P1, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ong Ngọc P, sinh năm 1993; Địa chỉ: A34/202 Quốc lộ 50, khu phố 1, xã B1, huyện C1, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Phạm Hữu T3, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu phố S1, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Tô Cẩm V, sinh năm 2001; Địa chỉ: 64/08 Khu phố L1, phường C2, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Lâm Hoàng L, sinh năm 1970; Địa chỉ: A62 khu vực 3, phường B2, quận R, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu Q1, sinh năm 2003; Địa chỉ: Hẻm 740/23 Quốc lộ 13, phường B3, thành phố Đ4, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Bà Đinh Thị Cẩm T4, sinh năm 2002; Địa chỉ: 27/4 thị trấn P2, huyện P2, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích chiếm đoạt tiền qua tài khoản ngân hàng của người khác bằng cách sử dụng các website giả mạo để chiếm đoạt thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác nên khoảng tháng 08/2020, Đỗ Tân Thanh N nhờ Trần Quốc Đ tìm 02 (hai) người giúp N đăng ký 02 (hai) tài khoản ngân hàng đồng thời đưa cho Đ 02 (hai) số điện thoại 0367.865.412 và 0767.402.284 để đăng ký mobile banking đối với hai tài khoản trên, Đ đồng ý. Đ nhờ bạn là Hồ Văn H3 lập 01 (một) tài khoản Ngân hàng V2 số 1016116703 với số điện thoại đăng ký mobilebanking là 0367.865.412 và nhờ Trương Văn Đ1 lập 01 (một) tài khoản Ngân hàng K2 số 19036253479014 với số điện thoại đăng ký mobilebanking là 0767.402.284 rồi giao lại cho N quản lý, sử dụng.
Vào ngày 18/10/2020, N truy cập vào trang mạng “Chotot.com” thấy thông tin chị Lê Thị H đăng bán xe ô tô nhãn hiệu Ford Explorer, màu đen, biển kiểm soát: 43A-511.04 nên N dùng tài khoản zalo có tên “Masster Việt” nhắn tin cho chị H để trao đổi việc mua bán xe ôtô. Ngày 19/10/2020, N giả vờ đồng ý mua xe nói trên và yêu cầu chị H cung cấp thông tin số tài khoản Ngân hàng để N chuyển tiền cọc việc mua xe. Chị H đồng ý và cung cấp tài khoản 05000680017 mở tại Ngân hàng G cho N. Sau đó, N sử dụng điện thoại hiệu Oppo F9, màu xanh đen gắn sim 0565.588.307 nhắn vào số điện thoại 0905.222.986 của chị H tin nhắn với nội dung số tài khoản 05000680017 của chị H đã nhận được số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng thông qua dịch vụ chuyển tiền quốc tế, đồng thời N gửi 01 (một) đường link liên kết đến trang web giả mạo chuyển tiền quốc tế cho chị H và yêu cầu chị H truy cập vào đường link nêu trên để làm thủ tục nhận tiền cọc. Sau khi chị H truy cập vào đường link trên thì thông tin về tên đăng nhập tài khoản ngân hàng, mật khẩu đăng nhập, mã OTP tài khoản của chị H được chuyển về tài khoản Gmail của N. Khi có được thông tin về tài khoản ngân hàng, N đăng nhập vào và thực hiện việc chiếm đoạt tiền bằng việc chuyển tiền 02 (hai) lần với tổng số tiền là 301.000.000 đồng (lần thứ nhất chuyển 1.000.000 đồng; lần thứ hai chuyển 300.000.000 đồng) từ tài khoản ngân hàng của chị H đến tài khoản ngân hàng V2 số 1016116703 do Hồ Văn H3 đứng tên mà N đang quản lý.
Đối với số tiền chiếm đoạt được, N chuyển khoản vào 02 (hai) tài khoản của đại lý game là tài khoản ngân hàng V2 số tài khoản 0001016213565 do Đỗ Vũ T2 đứng tên và tài khoản ngân hàng V2 số tài khoản 0001016511506 do Ong Ngọc P đứng tên để nạp tiền chơi game với tổng số tiền là 96.500.000 đồng. Tiếp đó, N gọi điện thoại nhờ Hồ Văn H3 đến ngân hàng V2 rút trực tiếp trong tài khoản V2 của Hồ Văn H3 số tiền 184.100.000 đồng rồi nộp vào tài khoản ngân hàng K2 số tài khoản 19036253479014 do Trương Văn Đ1 đứng tên với số tiền 179.500.000 đồng. Số tiền còn lại là 4.600.000 đồng N cho Hồ Văn H3, H3 cho Đ 3.500.000 đồng, giữ lại 1.100.000 đồng. Sau đó, N chuyển khoản 179.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng do Trương Văn Đ1 đứng tên vào tài khoản của Phạm Hữu T3 để nhờ T3 rút tiền mặt với số tiền 130.000.000 đồng, số tiền còn lại N mua trang sức vàng tại tiệm vàng do T3 làm chủ. Số tiền và vàng có được hiện N đã tiêu xài hết. Đến ngày 20/10/2020, N chuyển khoản 20.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng do Hồ Văn H3 đứng tên đến 01 (một) tài khoản của đại lý game do đã chuyển nhầm cho N số tiền trên vào ngày 12/10/2020.
Ngoài ra, Đỗ Tân Thanh N còn thực hiện thêm 01 (một) vụ chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người khác. Cụ thể: Vào khoảng tháng 10/2020, N mượn tài khoản Ngân hàng K2 số tài khoản 19036348559015 của Tô Cẩm V để sử dụng thì V đồng ý. Ngày 03/11/2020, N truy cập vào trang mạng “Chotot.com” thấy thông tin chị Trần Thị Y đăng bán xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, màu trắng, biển kiểm soát: 43C-081.75 nên sử dụng tài khoản zalo tên “Masster Việt” để nhắn tin với chị Y trao đổi việc mua bán xe ôtô. Bằng thủ đoạn tương tự như đã thực hiện đối với chị H thì N đã chiếm đoạt được thông tin về tài khoản ngân hàng của chị Y rồi sau đó đăng nhập vào và chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của chị Y đến tài khoản ngân hàng mà N mượn của Tô Cẩm V. Số tiền chiếm đoạt được, N chuyển hết vào tài khoản của đại lý game mà N chơi là tài khoản Ngân hàng K2, số tài khoản 1935863341018 do Lâm Hoàng L đứng tên.
Qua truy xét, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định Đỗ Tân Thanh N đã thực hiện hành vi như đã nêu trên.
*Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại phòng 809 khu chung cư N2, kiệt 338 đường Nguyễn Văn Q2, phường Đ2, quận M1, thành phố Hồ Chí Minh thu giữ:
- 01 (một) sim điện thoại mạng Viettel 0367865412; 01 (một) sim Mobifone 0767.402.284 (những sim điện thoại đã đăng ký với ngân hàng để lập tài khoản mobilebanking do Hồ Văn H3 và Trương Văn Đ1 đứng tên chủ thẻ);
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, màu xanh đen, kiểm tra bên trong máy có chứa nội dung tin nhắn: “SCB TK: 05000680017 tang +50,000,000 VND ngay 19/10/2020. Noi dung nhan 2157.44 USD tu Western Union, TG 23,193. Ma so giao dich 562-663-7941…”; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, tiến hành kiểm tra bên trong máy có ứng dụng “weebly” lưu trữ 04 đường link liên kết đến trang website giả mạo.
- 25 (hai mươi lăm) viên nén màu hồng, bên trên mỗi viên đều có khắc chữ “WY”. N khai là ma túy hồng phiến, tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng (được niêm phong ký hiệu G1).
- 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh, bên trên mỗi viên đều có khắc chữ “WY”. N khai là ma túy hồng phiến, tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng (được niêm phong ký hiệu G2).
- 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng. N khai là ma túy khay, tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng (được niêm phong ký hiệu G3).
- 01 gói ni lông màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng. N khai là ma túy khay, tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng (được niêm phong ký hiệu G4).
*Theo Kết luận giám định số 347/GĐ-MT ngày 04 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định:
- Mẫu viên nén trong bì niêm phong ký hiệu G1, G2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu G1: 2,584 gam, G2: 0,207 gam;
- Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G3, G4 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu G3: 0,285 gam; G4: 0,575 gam.
Qua điều tra xác định được: Ngày 15/10/2020, N đến một quán Bar trên địa bàn quận M1, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, N cùng 01 nhóm bạn sử dụng ma túy. Khi ra về, do thấy còn lại 02 (hai) gói ma túy nên N cất giấu, đem về lại phòng trọ của mình để sử dụng tiếp. Đến ngày 18/11/2020, N có nhờ một người tên Tân mua giúp 35 (ba mươi lăm) viên ma túy loại hồng phiến với giá 700.000 đồng. N khai đã sử dụng hết 08 viên, số ma túy còn lại N cất giấu tại phòng trọ với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê khám xét, thu giữ. Qua thử test, Đỗ Tân Thanh N dương tính với ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Tân Thanh N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào các ngày 19/10/2020 và 03/11/2020, Đỗ Tân Thanh N đã chiếm đoạt thông tin về tài khoản ngân hàng của chị Lê Thị H và chị Đỗ Thị Y rồi sau đó đăng nhập vào các tài khoản ngân hàng đó để thực hiện việc chiếm đoạt tiền của những người này, cụ thể chiếm đoạt của chị H số tiền 301.000.000đ; chiếm đoạt của chị Y số tiền 100.000.000đ.
Ngoài ra, vào ngày 20/11/2020, tại phòng 809 khu chung cư N2, kiệt 338 đường Nguyễn Văn Q2, phường Đ2, quận M1, thành phố Hồ Chí Minh, Đỗ Tân Thanh N còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,791 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,86 gam ma túy loại Ketamine.
Do đó, các hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành các tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tân Thanh N phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1/ - Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tân Thanh N 09 (chín) năm tù.
- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tân Thanh N 02 (hai) năm tù.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đỗ Tân Thanh N là 11 (mười một) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 11 năm 2020.
2/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584 của Bộ luật dân sự:
Tuyên xử:
- Buộc bị cáo Đỗ Tân Thanh N phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị H số tiền là 175.500.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng).
- Buộc bị cáo Đỗ Tân Thanh N phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Y số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
3/ Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đỗ Tân Thanh N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 12.775.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - Viện KSND quận Thanh Khê; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê; - Viện KSND Tp Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT- Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan thi hành án hình sự quận Thanh Khê; - Bị cáo; - Trại tạm giam Hòa Sơn; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Bảo Huyền Trân |
Bản án số 69/2021/HSST ngày 29/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2021/HSST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tân Thanh N phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
