|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 69/2021/DS-PT Ngày: 28-6-2021 V/v tranh chấp quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành.
Ông Hồ Văn Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/6/2021 và 28/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2021/TLPT-DS ngày 10/3/2021 về tranh chấp quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2021/DS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 76/2021/QĐ-PT ngày 13/5/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Phan Thanh T, địa chỉ: Số KM, Ấp H, xã TP, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: Số BH, ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, địa chỉ: Số BH, ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: số BTB, ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện uỷ quyền theo các văn bản ủy quyền ngày 22/7/2020 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1957, địa chỉ: ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi Hội đồng xét xử tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Hùng D, là Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV T thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N, địa chỉ: Ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Huệ Nh, địa chỉ: Số BTB, ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: Số BTB, ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bà Dương Thị H, địa chỉ: Ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn P, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/10/2019 (được bổ sung ngày 28/8/2020) của ông Phan Thanh T, bà Nguyễn Thị L và trình bày của ông Nguyễn Văn C tại phiên tòa sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Huệ Nh và ông Nguyễn Văn C nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N phần đất thổ cư có diện tích 150,9m2 thuộc thửa số 186, tờ bản đồ số BK, tọa lạc tại ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và đã được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/11/2015. Vào năm 2018, bà Nh, ông C tặng cho cho vợ chồng ông T, bà L thửa đất này; sau đó ông T, bà L nhận chuyển nhượng thêm của ông N phần đất liền kề có diện tích 137,5m2. Hai phần đất này ông T, bà L đăng ký hợp thửa và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận ngày 14/8/2019, với số thửa là BNK, tờ bản đồ BK, diện tích 288,4m2. Khi ông T, bà L cất nhà thì ông Nguyễn Văn P ngăn cản cho rằng phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông P chứ không phải của ông N; đồng thời trên phần đất này, trước đây ông P có xây cất mái che tạm để bán thức ăn vặt cho học sinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo của bị đơn phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn P, thấy rằng ông Phan Thanh T, bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông P chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng của vợ chồng ông T, bà L đối với thửa đất số BNK, tờ bản đồ số BK, diện tích 288,4m2 tọa lạc tại ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng mà ông, bà đã được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 668362 ngày 14/8/2019 và buộc ông P tháo dỡ mái che tiền chế trên đất có diện tích 8,64m2 để trả lại thửa đất này cho ông T, bà L. Còn ông P cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông, vì nằm trong thửa đất số MTB, tờ bản đồ số BK, diện tích 1.145,6m2 do Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 759191 ngày 31/12/2015 cho hộ ông P và bà Dương Thị H.
[10] Như vậy, có cơ sở khẳng định thửa BNK, diện tích thực tế 283,8m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T, bà L. Nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L, buộc ông P tháo dỡ mái che tiền chế và chấm dứt hành vi cản trở ông T, bà L thực hiện quyền của người sử dụng đối với thửa đất này là có căn cứ và đúng pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn P.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2021/DS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- 2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn P phải tháo dỡ công trình mái che tiền chế có kích thước ngang 2,4m, dài 3,6m, kết cấu mái tôn, cột cây, nền xi măng, được xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Phan Thanh T, bà Nguyễn Thị L tại thửa đất số BNK, tờ bản đồ BK, diện tích 288,4m2 (đo đạc thực tế là 283,8 m2) tọa lạc tại ấp M, xã TAH, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; buộc ông Nguyễn Văn P phải chấm dứt mọi hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất là ông Phan Thanh T, bà Nguyễn Thị L tại thửa đất số BNK nêu trên.
- 2.2. Về án phí và chi phí khác: Ông Nguyễn Văn P được miễn 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn P được miễn nộp 300.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Lưu HSVA, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Khương |
Bản án số 69/2021/DS-PT ngày 28/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 69/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan Thanh T và ông Nguyễn Văn P
