Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68a/2024/DS-ST

Ngày: 20-9-2024

“V/v Tranh chấp về hợp

đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Thụ và ông Bùi Hoàng Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa: Ông Hồ Quang Phúc.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H'leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QÐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Địa chỉ: Số B, B đường N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần K - Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Đ2 - Phòng G.

Địa chỉ: D đường G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Theo ủy quyền số: 3525/2023/QĐ-PC, ngày 25/12/2023 của Tổng Giám Đốc Ngân hàng TMCP S).

Người được ủy quyền lại: Ông Hoàng Ngọc Đ - Chức vụ: Phó phòng giao dịch E. Địa chỉ: Số D đường G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Văn D1 (có mặt) và bà Nguyễn Thị H (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn C, sinh năm 2002. Vắng mặt

Bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm 2004. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình làm việc người đại diện cho nguyên đơn ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 20/5/2020 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số [...] với ngân hng T1 – P vay số tiền 570.000.000 đồng, mục đích sản xuất nông nghiệp, lãi suất 10%/năm, thời hạn 60 tháng.

Đến ngày 19/5/2021 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 20216134512 với ngân hàng TMCP S – PGD Ea H'leo vay số tiền 180.000.000 đồng, mục đích sản xuất nông nghiệp, lãi suất 10.5%/năm, thời hạn 12 tháng.

Đến ngày 18/5/2022 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 01/202126134512 với ngân hàng TMCP S – PGD Ea H'leo vay số tiền 370.000.000 đồng, mục đích sản xuất nông nghiệp, lãi suất 10.5%/năm, thời hạn 12 tháng.

Quá trình vay nợ vợ chồng ông D1, bà H đã thanh toán được một phần tiền vay, hiện nay ông D1, bà H còn nợ ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 712.000.000 đồng. Tính đến ngày 20/9/2024 vợ chồng ông D1, bà H còn nợ lại ngân hàng TMCP S số tiền 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng.

Để đảm bảo khoản vay trên vợ chồng ông D1, bà H có ký hợp đồng thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021 với ngân hàng TMCP S. Ông D1 bà H có thế chấp cho ngân hàng TMCP S các tài sản: Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 45 diện tích 2.107m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 926002, ngày 28/12/2006 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H và các tài sản trên đất; Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70 diện tích 3.460,2m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 852873, ngày 28/4/2014 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H và các tài sản trên đất; Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 70 diện tích 2.889,6m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 852872, ngày 28/4/2014 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H và các tài sản trên đất.

Trường hợp ông D1, bà H không thanh toán được nợ cho ngân hàng TMCP S thì đề nghị đề nghị Tòa án giải quyết để ngân hàng được xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đề thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tại đơn bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn D1 trình bày:

Từ năm 2020 đến năm 2022 ông D1, bà H có vay tại ngân hàng TMCP S và hiện còn nợ lại tổng số tiền gốc là 712.000.000 đồng, mục đích để đầu tư sản suất, khi vay có thế chấp 03 giấy chứng nhận QSDĐ đối với các thửa đất:

Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 45 diện tích 2.107m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 926002, ngày 28/12/2006 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H;

Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70 diện tích 3.436,2m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 852873, ngày 28/4/2014 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H;

Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 70 diện tích 2.889,6m² tọa lạc tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 852872, ngày 28/4/2014 cho hộ ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H.

Hiện ngân hàng TMCP S yêu cầu ông D1, bà H trả tổng số tiền số tiền 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng (tạm tính đến ngày 20/9/2024) thì ông D1 thừa nhận và không có ý kiến gì. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông D1 và bà H chưa trả nợ cho Ngân hàng, trường hợp không trả nợ thì đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để ngân hàng thu hồi nợ.

Tại đơn bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà H thừa nhận có ký hợp đồng với ngân hàng TMCP S để vay tiền. Hiện ngân hàng TMCP S yêu cầu ông D1, bà H trả tổng số tiền 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng (tạm tính đến ngày 20/9/2024) thì bà H đồng ý trả nhưng xin trả dần. Trường hợp không trả được thì đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Đối với Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, HĐXX thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 298; Điều 299; Điều 317; Điều 318; Điều 325; Điều 319; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điểm a Điều 4; khoản 1 Điều 5; Điều 6 Nghị định số 102/2017/NĐCP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất phát sinh tạm tính đến ngày xét xử là ngày 20/9/2024 là: 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng và tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 21/9/2024 cho đến khi trở hết nợ.

Trong trường hợp ông D1, bà H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án Dân sự xử lý các tài sản đã được bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021, để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Ngoài ra, ông D1, bà H còn phải chịu các chi phí tố tụng và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ngân hàng thương mại cổ phần S với bị đơn Vũ Trọng Đ1 là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà H và người có quyền có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung: Ngày 20/5/2020 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số [...] với ngân hng T1 vay số tiền 570.000.000 đồng; Đến ngày 19/5/2021 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 20216134512 với ngân hàng TMCP S vay số tiền 180.000.000 đồng; Đến ngày 18/5/2022 ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 01/202126134512 với ngân hàng TMCP S vay số tiền 370.000.000 đồng. Lãi suất được tính theo hợp đồng tín dụng.

Quá trình vay ông D1, bà H đã thanh toán được một phần tiền vay, hiện nay ông D1, bà H còn nợ ngân hàng tổng số tiền 712.000.000 đồng nợ gốc. Tính đến ngày 20/9/2024 vợ chồng ông D1, bà H còn nợ lại ngân hàng TMCP S số tiền 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng.

Để đảm bảo khoản vay trên vợ chồng ông D1, bà H có ký hợp đồng thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021 với ngân hàng TMCP S.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thiết lập hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng S với ông D1, bà H tuy không có công chứng, chứng thực nhưng tại hợp đồng thế chấp tài sản 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021, số 1811, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD, tại điểm Điều 1 và Điều 2 của của Thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp nêu “Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm toàn bộ nghĩa vụ Bên thế chấp đối với Bên nhân thế chấp được quy định tại hợp đồng tín dụng số [...] ngày 20/5/2020 và các văn bản sửa đổi, bổ sung của hợp đồng tín dụng nếu có”. Tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Những tình tiết, sự kiện đã được ghi nhận trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp...” thì không phải chứng minh. Như vậy, việc ông D1, bà H có vay của ngân hàng S là có thật, việc thiết lập hợp đồng vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Ngân hàng S đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên cho vay tài sản theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 465 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng ông D1, bà H đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc ông D1, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng S, nên ngân hàng khởi kiện ra Tòa án buộc ông D1, bà H phải trả nợ tính đến ngày 20/09/2024 đối với thỏa thuận ký sửa đổi bổ sung trong hợp đồng cho vay tổng số tiền 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng. Đồng thời, ông D1, bà H tiếp tục phải chịu số tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 21/09/2024 theo hợp đồng đã ký cho đến khi ông D1, bà H trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về hợp đồng thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay trên thì ông D1, bà H đã thế chấp tài sản bảo đảm cho Ngân hàng theo đồng thế chấp tài sản 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021. Như vậy, xét về Hợp đồng thế chấp tài sản đã được ký kết giữa các bên là phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nêu trên khi ông D1, bà H không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Về lãi suất: Cần áp dụng các Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết.

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 3.000.000 đồng. Do phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này, nên cần buộc bị đơn ông D1, bà H phải trả lại cho phía nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng chi phí nói trên.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144; Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 463; khoản 1 Điều 464; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 40, Điều 48, Điều 54 của Luật Công chứng 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền là 995.238.461 đồng, trong đó nợ gốc 712.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 221.011.826 đồng, lãi suất quá hạn là 62.226.635 đồng (lãi tạm tính đến ngày 20/09/2024).
  2. Kể từ ngày 21/9/2024 ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  3. Trong trường hợp ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản và tài sản trên đất theo Hợp đồng thế chấp số 0706/2020/TC/EHL, ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0706-01, ngày 19/5/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 3.000.000 đồng. Do phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này, nên cần buộc bị đơn ông D1, bà H phải trả lại cho phía nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng chi phí nói trên.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị H phải chịu 41.857.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Trả lại cho ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đ2 - Phòng G 19.225.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo, theo biên lai số AA/2023/0001963, ngày 02/4/2024.

  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND huyện Ea H'Leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'Leo;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68a/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 68a/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger