|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 689/2025/HS-PT Ngày: 29 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Văn
- Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng
- Ông Trần Ngọc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi D - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 29 tháng 12 năm 2025, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa để xét xử công khai theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thùy L, Trần Tất D1 và Nguyễn Thị Phượng H, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L và kháng cáo của những người bị hại là ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2025/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Các bị cáo:
- Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1987 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; con ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966; về quan hệ hôn nhân: kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1979 (đã ly hôn); có 02 người con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 18/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh T; có mặt tại phiên tòa.
- Trần Tất D1, sinh ngày 06 tháng 9 năm 1980 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: nguyên Công chứng viên, Trưởng Văn phòng C6; trình độ học vấn: lớp 12/12; trình độ chuyên môn: Cử nhân Luật; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Tất C1, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1947; có vợ là chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1993; có 01 người con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/7/2024; đến ngày 08/12/2024 bị bắt tạm giam; đến ngày 24/01/2025 được áp dụng biện pháp “Bảo lĩnh”; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thị Phượng H, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1988 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Chuyên viên Văn phòng C6; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Lương Thị T; có chồng là Mai Thanh T1 và 02 người con sinh năm 2011 và năm 2016; tiền án, tiền sự: không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/7/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
· Người bào chữa cho các bị cáo:
- Luật sư Đoàn Trọng N2, Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy L theo chỉ định; có mặt.
- Luật sư Lê Hòa Thái S, Đoàn Luật sư tỉnh T, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Phượng H theo yêu cầu của bị cáo; vắng mặt không có lý do.
Bị hại (theo Tòa án cấp sơ thẩm xác định) có kháng cáo:
- Ông Lê Văn D2, sinh năm 1968;
- Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1971;
Cùng địa chỉ: Số A hẻm A, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh);
Ông D2, bà N có mặt tại phiên tòa ngày 24/12/2025, vắng mặt khi Tòa tuyên án ngày 29/12/2025.
Bị án không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị: Kim Cẩm H1.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (theo Tòa án cấp sơ thẩm xác định) không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Thùy L, Nguyễn Thị Phượng H và Trần Tất D1:
Bà Phạm Kim Ú là chủ sử dụng thửa đất số 291, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (cũ), diện tích 5.860m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng tháng 4/2022, Nguyễn Thị Thùy L thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà Ú quyền sử dụng thửa đất trên với giá 3.690.000.000 đồng. L đã đặt cọc cho bà Ú số tiền 300.000.000 đồng; số tiền còn lại hai bên thỏa thuận L sẽ thanh toán cho bà Ú tại Văn phòng công chứng khi lập hợp đồng chuyển nhượng.
Sau khi đặt cọc tiền cho bà Ú, L tự lập bản vẽ phân chia thửa đất nêu trên thành 57 lô (gồm 55 lô hình chữ nhật, mỗi lô có kích thước ngang 5m x dài 18m + 2 lô góc hình tam giác) và nhờ một số người trung gian môi giới rao bán lại với giá từ khoảng 90.000.000 đồng/lô. Khi những người trung gian môi giới tìm được tổng cộng 39 người có nhu cầu mua đất, L gửi thông tin của bên chuyển nhượng (là bà Phạm Kim Ú) và thông tin của những người có nhu cầu nhận chuyển nhượng (do những người môi giới cung cấp theo yêu cầu của L) cho Nguyễn Thị Phượng H (là chuyên viên làm việc tại Văn phòng C6), nhờ H soạn thảo trước hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 08/6/2022, L dẫn bà Ú, còn những người môi giới dẫn những người có nhu cầu mua đất đến Văn phòng C6 (địa chỉ: số C đường P, khu phố H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (cũ), nay là phường H, tỉnh Tây Ninh) để ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bên chuyển nhượng là bà Phạm Kim Ú với bên nhận chuyển nhượng là 39 người (có họ tên, địa chỉ cụ thể từng người thể hiện trong hợp đồng). Hợp đồng chuyển nhượng này đã được Văn phòng C6 công chứng cùng ngày, số công chứng 100.12, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 08/6/2022. L nhận từ những người môi giới tổng số tiền 4.950.000.000 đồng của 39 người mua đất trả, đồng thời L hẹn khi nào sang tên được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ giao đất cho những người mua. Quá trình điều tra, L khai đã trả cho bà Ú khoảng 2.000.000.000 đồng, còn lại 2.950.000.000 đồng L dùng để chi tiêu cho bản thân; còn bà Ú thì khai được L trả 2.200.000.000 đồng.
Theo L khai nhận trong thời gian này, L nợ tiền nhiều người, trong đó nợ Nguyễn Thị Phượng H số tiền 1.700.000.000 đồng và bị H đòi nợ liên tục, nên L nảy ra ý định làm giả văn bản chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ú và 39 người mua đất, để sau đó L sẽ lấy đất bán cho người khác lấy tiền trả nợ. Vì vậy, L đã liên lạc với H, nhờ H soạn thảo trước “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà Ú và 39 người mua đất, được H đồng ý. Ngày 27/6/2022, L đến Văn phòng công chứng Trần Tất D1 gặp H lấy “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, mang ra xe ô-tô, tự ký giả chữ ký của bà Ú và chữ ký của 39 người mua đất, sau đó quay vào giao cho H. H trình “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” cho Trần Tất D1 (là công chứng viên, Trưởng văn phòng) thực hiện việc công chứng, số công chứng 114.30, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/6/2022.
Sau đó, L gặp bà Ú và nói là không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung cho tất cả những người mua đất nên đã hủy hồ sơ chuyển nhượng, đồng thời đề nghị bà Ú làm thủ tục tách thửa đất số 291 thành 06 (sáu) thửa đất bằng cách làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho hai người con của bà Ú là anh Phan Thành T2 và chị Phan Thị Thảo N3, mỗi người đứng tên 02 thửa, bà Ú cũng đứng tên 02 thửa. Nghe theo L, bà Ú hoàn tất việc sang tên tách thửa đất số 291 thành các thửa 496, 497, 498, 499, 500 và 501, cùng tờ bản đồ số 22 (có diện tích cụ thể từng thửa).
Sau khi bà Ú, anh T2, chị N3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất được tách ra từ thửa số 291, L hỏi H xem có biết ai cho vay tiền để L thế chấp các thửa đất này vay số tiền 2.500.000.000 đồng trả nợ. H liên lạc với vợ chồng ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N (là bà con họ hàng bên chồng của H) nói là L muốn vay số tiền 2.500.000.000 đồng. Ông D2, bà N yêu cầu phải có tài sản thế chấp mới cho vay thì H nói biết L mới mua thửa đất của bà Ú trị giá trên 3 tỷ đồng, nên ông D2, bà N đồng ý cho L vay tiền. L đến gặp ông D2, bà N, hai bên thỏa thuận L sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D2, bà N để làm tin; ông D2, bà N sẽ cho L vay 2.500.000.000 đồng trong thời hạn 3 tháng, lãi suất 3,5%/tháng; quá thời hạn trả nợ mà L không trả thì ông D2, bà N sẽ sang tên quyền sử dụng đất.
Ngày 08/10/2022, L đưa vợ chồng bà N, ông D2 đến Văn phòng Có ký tổng cộng 05 (năm) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 05 (năm) thửa đất gồm các số 496, 497, 498, 499 và 501. Sau khi ký kết các hợp đồng, bà N, ông D2 giao cho L số tiền 2.412.500.000 đồng (do trừ trước tiền lãi của 1 tháng là 87.500.000 đồng). L trả bà Ú 1.200.000.000 đồng, trả nợ H 800.000.000 đồng, số tiền còn lại L sử dụng cho cá nhân. Hết thời hạn 3 tháng không thấy L trả nợ nên ông D2, bà N đã làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Đến ngày 20/02/2023 ông D2, bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 05 (năm) thửa đất nêu trên.
Đối với thửa đất số 500, tờ bản đồ số 22 còn lại do chị Phan Thị Thảo N3 đứng tên chủ sử dụng: L nói chị N3 làm hợp đồng ủy quyền cho anh Ngô Bình N4 được toàn quyền của chủ sử dụng đất; tiếp đó L nói anh N4 (với tư cách đại diện theo ủy quyền của chị N3) ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho ông Trần Huy C2 được 300.000.000 đồng. Số tiền này L nhận và sử dụng cho cá nhân. Sau đó ông C2 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho chị Trần Yên B; rồi chị B lại chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho ông Trần Văn K được 410.000.000 đồng.
Cũng trong tháng 6/2022, qua trung gian môi giới, L thỏa thuận nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 quyền sử dụng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01, ấp T, xã T, thị xã H, diện tích 4.000m² với giá 2.000.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/12/2025, L khai có đặt cọc cho ông N5, bà C3 một khoản tiền nhưng không nhớ chính xác là bao nhiêu. Ngày 04/6/2022, ông N5, bà C3 đã ký kết hợp đồng ủy quyền cho L được toàn quyền của chủ sử dụng đất. Sau đó L tự lập bản vẽ phân chia thửa đất thành 19 lô, rồi nhờ một số người trung gian môi giới rao bán lại với giá khoảng 70.000.000 đồng/lô. Sau khi những người trung gian môi giới được tổng cộng 13 người có nhu cầu nhận chuyển nhượng, L gửi cho H thông tin của bên chuyển nhượng (là vợ chồng ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 do L là đại diện theo ủy quyền) và thông tin của những người có nhu cầu nhận chuyển nhượng (do những người môi giới cung cấp theo yêu cầu của L) để H soạn thảo trước hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 08/6/2022, tại Văn phòng C6, L (đại diện bên chuyển nhượng) cùng 13 người nhận chuyển nhượng (có họ tên, địa chỉ cụ thể từng người thể hiện trong hợp đồng) ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 100.69, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/11/2025, L khai đã nhận từ những người môi giới tổng số tiền 1.330.000.000 đồng của 13 người mua đất trả, L trả cho ông N5, bà C3 700.000.000 đồng, còn lại sử dụng để chi tiêu cá nhân. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/12/2025, L vẫn xác nhận đã nhận từ những người môi giới tổng số tiền 1.330.000.000 đồng của 13 người mua đất và đã trả đủ tổng cộng 2.000.000.000 đồng cho ông N5, bà C3.
Song cũng như trường hợp đối với thửa đất của bà Ú, L tiếp tục nhờ H soạn thảo “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” nhằm mục đích sau đó đem thửa đất bán cho người khác lấy tiền trả nợ. Ngày 16/6/2022, L đến Văn phòng công chứng Trần Tất D1 gặp H lấy “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, mang qua bàn làm việc ngay trong Văn phòng công chứng, tự ký giả chữ ký của 13 người mua đất, sau đó giao cho H. H trình “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Trần Tất D1 thực hiện việc công chứng, số công chứng 107.39, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/6/2022.
Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án cơ quan điều tra còn thu thập được một bản “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (số công chứng 107.49, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/6/2022) và một bản “Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (số công chứng 114.16, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/8/2022) cũng giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 do L là đại diện theo ủy quyền và bên nhận chuyển nhượng là 13 người như đã nêu trên. Quá trình điều tra, L và H đều khai không nhớ lý do soạn thảo ra những văn bản này.
Ngày 18/8/2022, L ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01 cho ông Phạm Đình K1 được số tiền 700.000.000 đồng. L trả nợ cho H 260.000.000 đồng, trả nợ cho một người tên L số tiền 400.000.000 đồng, còn lại Linh chi tiêu cá nhân. Ngày 23/5/2023, ông K1 chuyển nhượng thửa đất cho ông Nguyễn Đăng T3 với giá 850.000.000 đồng. Ngày 27/9/2023, ông T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2] Về hành vi phạm tội của Kim Cẩm H1:
Tháng 6/2022, chị Nguyễn Thị Liên C4 nhờ Kim Cẩm H1 làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành thổ cư đối với thửa đất số 271, tờ bản đồ số 31, diện tích 958,5m², tại xã B, huyện D; đất thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị Kim P (là mẹ đẻ chị C4). Chị C4 đã giao Căn cước công dân của bà P và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà P cho H1 để làm thủ tục. Tháng 8/2022, chị C4 đòi H1 trả nợ số tiền 900.000.000 đồng. H1 nảy sinh ý định đem thửa đất của bà P bán lấy tiền để trả nợ cho chị C4. Thông qua trung gian môi giới, ông Hoàng Minh T4 liên lạc với H1 đặt vấn đề nhận chuyển nhượng thửa đất của bà P với giá 1.000.000.000 đồng. Ngày 30/8/2022, H1 thuê một người phụ nữ (hiện không xác định được lai lịch) với giá 2.000.000 đồng để giả làm bà P, đến Văn phòng C6 ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Hoàng Minh T4, bà Nguyễn Thị Ngọc C5. Trần Tất D1 không kiểm tra, đối chiếu căn cước công dân, nhưng đã tiến hành việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 15789, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi ký kết hợp đồng, ông T4 chuyển khoản cho H1 số tiền 950.000.000 đồng. Hường chuyển khoản trả nợ cho chị C4 900.000.000 đồng. Khi chị C4 hỏi H1 về thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất thì H1 trả lời là đã làm thất lạc hồ sơ, đồng thời hướng dẫn chị C4, bà P làm đơn có mất gửi Ủy ban nhân dân xã B để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong thời gian bà P chờ được cấp lại giấy đất thì ông T4 đã đến nhà bà P thông báo là ông đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất của bà P và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định (tóm tắt):
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Thùy L 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giam 18/01/2024;
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Kim Cẩm H1 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời gian thụ hình tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Tất D1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Phượng H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường C7, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
. . .
7/ Về trách nhiệm dân sự:
- Huỷ “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 (do Nguyễn Thị Thùy L đại diện) với ông Phạm Đình K1 lập ngày 18/8/2022 tại Văn phòng C8, đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01, tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/3/2009 cho ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 đứng tên.
- Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Đình K1 với ông Hoàng Đăng T5, đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01, tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Thảo N3 với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N lập ngày 08/10/2022 tại Văn phòng C6, đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho bà Phạm Kim Ú đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Kim Ú, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N lập ngày 08/10/2022 tại Văn phòng C6 đối với thửa đất số 497, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho bà Phan Thị Thảo N3 đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Thành T2 (do Nguyễn Thị Thùy L đại diện) với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N lập ngày 08/10/2022 tại Văn phòng C6; đối với thửa đất số 498, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho ông Phan Thành T2 đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Kim Ú với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N lập ngày 08/10/2022 tại Văn phòng C6; đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho bà Phạm Kim Ú đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Thành T2 với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N lập ngày 08/1/2022 tại Văn phòng C6; đối với thửa đất số 501, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho ông Phạm Thành T6 đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Thảo N3 (do ông Ngô Bình N4 đại diện) với ông Trần Huy C2 lập ngày 04/01/2023 tại Văn phòng C6; đối với thửa đất số 500, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2022 cho bà Phan Thị Thảo N3 đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Yên B và ông Trần Văn K lập ngày 30/3/2023 tại Văn phòng C9; đối với thửa đất số 500, tờ bản đồ số 22, tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 03/10/2022 cho bà Trần Yên B đứng tên.
- Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Kim P với ông Hoàng Minh T4 lập ngày 30/8/2022 tại Văn phòng C6; đối với thửa đất số 271, tờ bản đồ số 31, tại ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 10/12/2015 cho bà Lê Thị Kim P đứng tên.
- Các đương sự có nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai để đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy L bồi thường cho ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N số tiền 1.612.500.000 (một tỷ, sáu trăm, mười hai triệu, năm trăm ngàn) đồng; bồi thường cho ông Trần Huy C2 số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng; bồi thường cho ông Phạm Đình K1 số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Buộc bị cáo Kim Cẩm H1 bồi thường cho ông Hoàng Minh T4 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Liên C4 có nghĩa vụ nộp lại số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo Kim Cẩm H1 trong phần trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho ông Hoàng Minh T4.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, nếu người phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hànhình sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Đối với các ông Nguyễn Văn D3, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn Ú1, ông Phạm Hoàng T8 (đã chết, có vợ là Trần Thị Thúy L2) đã được bị cáo D1, H bồi thường đất, được cấp GCNQSDĐ, đã nhận đất và GCNQSDĐ nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền nhận chuyển nhượng đất. Riêng ông Úl, bà L2 nếu có tranh chấp yêu cầu bồi thường đối với tài sản trên đất thì được quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án dân sự.
- Đối với các ông bà Trần Thị Bích Q1, Trần Văn M, Lê Thị Cẩm V, Ngô Thị R, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị G1, Nguyễn Thái H2 đã có thoả thuận bồi thường đền bù đất với bị cáo D1 và bị cáo H nhưng không đồng ý thì được quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án dân sự.
(Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, giải thích về nghĩa vụ của người được hưởng án treo, án phí sơ thẩm, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự).
Ngày 24/6/2025, Nguyễn Thị Thùy L có Đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do chồng đã ly hôn; bản thân đang có trách nhiệm phải nuôi 2 con còn nhỏ; có bác ruột là thương binh tham gia kháng chiến chống Mỹ.
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 25/6/2025, “Biên bản lấy lời khai, làm rõ kháng cáo của bị hại” ngày 30/6/2025 và Đơn tường trình kháng cáo bổ sung ngày 03/7/2025, những người bị hại là ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với những lý do chính gồm: Các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm là bà Phạm Kim Ú và Nguyễn Thị Phượng H vì hai người này và Nguyễn Thị Thùy L đã có sự câu kết, thông đồng với nhau, trong đó bà Ú và H giúp sức cho L lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại (tức ông D2, bà N). H nhiều lần giúp sức tích cực cho L và đã nhận từ L tổng số tiền 1.060.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt H tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là không đúng. Hình phạt đối với Trần Tất D1 và Nguyễn Thị Phượng H được hưởng án treo là không phù hợp; Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh Phan Thành T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa mẹ con bà Ú, anh T2, chị N3 với ông bà là giả cách, nhưng không buộc bà Ú và L phải chịu lãi trên số tiền vay của ông bà; không buộc bà Ú trả lại cho ông bà số tiền 1.200.000.000 đồng mà L đã đưa cho bà Ú sau khi ông bà đưa tiền cho L vay là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/12/2025:
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L thừa nhận các hành vi phạm tội như đã được mô tả trong bản án sơ thẩm, không cung cấp chứng cứ nào mới, đồng thời thay đổi yêu cầu kháng cáo: tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng kháng cáo về số tiền bị cáo đã trả cho bà Ú, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét buộc bà Ú nộp lại số tiền này để đảm bảo việc khắc phục hậu quả cho ông D2, bà N.
Những người bị hại là ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N trình bày nội dung kháng cáo: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự với bà Phạm Kim Ú với vai trò câu kết, thông đồng với L và H cùng tội lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông bà; buộc bà Ú phải nộp lại số tiền nhận của L để khắc phục hậu quả; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với D1 là không thỏa đáng, đề nghị xử phạt tù giam để làm gương; buộc L, H và D1 phải liên đới trả lại số tiền L đã chiếm đoạt và phải trả tiền lãi trên số tiền L đã vay; xin rút nội dung kháng cáo đề nghị đưa anh Phan Thành T2 vào tham gia tố tụng.
Bị cáo Nguyễn Thị Phượng H trình bày: Bị cáo phạm tội không phải do cố ý, mà chỉ do tin tưởng vào L nên đã soạn trước hợp đồng và văn bản chấm dứt hợp đồng giúp L. Đối với việc vay tiền của ông D2, bà N, bị cáo chỉ cho L số điện thoại của ông D2, bà N để L tự giao dịch. Bị cáo mong ông D2, bà N nhìn nhận lại sự việc, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo có điều kiện tiếp tục cùng bị cáo D1 bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của vụ án cho ông D2, bà N trong một khoảng thời gian khoảng 6 -7 tháng.
Bị cáo Trần Tất D1 trình bày: Bị cáo phạm tội do tin tưởng vào sự giúp việc của các nhân viên làm việc tại Văn phòng công chứng do bị cáo là Trưởng văn phòng, trong đó có bị cáo H. Bị cáo không vụ lợi gì. Sau khi xẩy ra sự việc, bị cáo đã thu xếp bồi thường cho tất cả những người mua đất của bà Ú và những người mua đất của ông N5, bà C3, nên từ khi xét xử sơ thẩm cho đến nay không có ai khiếu nại hay thắc mắc gì. Bị cáo mong ông D2, bà N nhìn nhận lại sự việc, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo có điều kiện tiếp tục cùng bị cáo H bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của vụ án cho ông D2, bà N trong một khoảng thời gian khoảng 6 -7 tháng.
Ông D2, bà N yêu cầu các bị cáo D1, H phải bồi thường ngay một lần cả gốc và lãi thì mới xem xét rút yêu cầu kháng cáo về phần trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đối với bị cáo L: L có hành vi gian dối là giả chữ ký của các bên trong các văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chiếm đoạt tiền của những người mua thửa đất của bà Ú và mua thửa đất của vợ chồng ông N5, bà C3, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người mua đất vào vào tham gia tố tụng với tư cách bị hại là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. L chiếm đoạt tiền của những người mua đất (bị hại) và trả cho bà Ú, nên phải xác định số tiền này là vật chứng của vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bà Ú nộp lại số tiền này là bỏ sót việc xử lý vật chứng, dẫn đến không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những người bị hại.
Đối với bị cáo H: H biết L không có tiền trả nợ nhưng vẫn giới thiệu L vay tiền của ông D2, bà N. Hơn nữa, với vai trò là nhân viên của Văn phòng công chứng thì H bắt buộc phải biết thủ tục công chứng các giao dịch, hợp đồng, nhưng H vẫn giúp L soạn thảo văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng không chỉ một lần, tạo điều kiện cho L chiếm đoạt tiền của những người bị hại là những người mua đất, để L dùng một phần tiền chiếm đoạt trả nợ cho H. Do đó hành vi của H có dấu hiệu đồng phạm với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Luật sư bào chữa cho bị cáo L trình bày quan điểm bào chữa: Đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo L thì bị cáo đã tự nguyện rút tại phiên tòa, nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo bị cáo đã rút. Đối với phần kháng cáo của bị cáo về số tiền bị cáo đã đưa cho bà Ú, luật sư nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm về xử lý vật chứng là cần buộc bà Ú nộp lại số tiền này. Ngoài ra, chứng cứ hồ sơ vụ án còn thể hiện sau khi xảy ra vụ án thì Trần Tất D1 và Nguyễn Thị Phượng H đã tự nguyện bồi tiền ra khắc phục hậu quả cho những người đã mua thửa đất của bà Ú và những người đã mua thửa đất của vợ chồng ông N5, bà C3 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định chính xác số tiền này là bao nhiêu, chưa buộc bị cáo L phải bồi thường lại cho D1, H hay dành cho D1, H được yêu cầu L bồi hoàn trong một vụ án khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm để giải quyết lại về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo về số tiền bị cáo đã đưa cho bà Ú. Các bị cáo Trần Tất D1, Nguyễn Thị Phượng H xin giữ nguyên bản án sơ thẩm, cam kết sẽ tiếp tục cùng nhau bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho ông D2, bà N.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời khai của bị cáo, quan điểm của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, luận cứ của người bào chữa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về những hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Thùy L:
[1.1] L chỉ mới đặt cọc cho bà Phạm Kim Ú số tiền 300.000.000 đồng để cam kết sẽ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 291, tờ bản đồ số 22 của bà Ú với giá 3.690.000.000 đồng, nhưng L đã tự ý làm họa đồ phân chia thửa đất thành nhiều lô và nhờ trung gian môi giới để chuyển nhượng cho những người khác. Ngày 08/6/2022, bà Ú (bên chuyển nhượng) và 39 người nhận chuyển nhượng đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C6. Hợp đồng này được công chứng theo đúng quy định của pháp luật về công chứng nên đã phát sinh hiệu lực. L là người nhận tổng số tiền 4.950.000.000 đồng do những người mua đất trả (qua trung gian môi giới). Lẽ ra, L phải trả số tiền này cho bà Ú và bà Ú sẽ trả cho L khoản tiền hoa hồng chênh lệch, nhưng L chỉ trả cho bà Ú một phần tiền, số tiền còn lại Linh chi tiêu cho cá nhân. Quá trình điều tra, L khai nhận do L đang mắc nợ nhiều người, trong đó có H và muốn có tiền trả nợ nên L đã nhờ H soạn trước Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, nhằm vô hiệu hóa Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/6/2022 giữa bà Ú và 39 người mua đất, để sau đó L sẽ đem thửa đất đi bán hoặc thế chấp cho người khác lấy tiền trả nợ. Ngày 27/6/2022, sau khi nhận bản dự thảo Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng từ H, L đã ký giả chữ ký của bà Ú và chữ ký của 39 người mua đất, tiếp đó đưa lại cho H, để H trình Công chứng viên thực hiện việc công chứng Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, bằng hành vi giả chữ ký của các bên trong văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng và cũng do công chứng viên chủ quan, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra tính xác thực của giao dịch nên đã thực hiện việc công chứng văn bản này, L đã vô hiệu hóa Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/6/2022 giữa bà Ú và 39 người mua đất. Do đó, phải xác định là L đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 4.950.000.000 đồng của 39 người nhận chuyển nhượng thửa đất của bà Ú.
[1.2] Cũng với thủ đoạn tương tự, L đã giả chữ ký của những người mua thửa đất của vợ chồng ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 tại Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, tiếp đó đưa lại cho H, để H trình Công chứng viên thực hiện việc công chứng Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thông qua đó vô hiệu hóa Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông N5, bà C3 (do L làm đại diện theo ủy quyền) với 13 người nhận chuyển nhượng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01 của ông N5, bà C3. Tại các phiên tòa phúc thẩm, L khai đã nhận đủ tiền của 19 lô đất với giá 70.000.000 đồng/lô = 1.330.000.000 đồng do những người mua đất trả (qua trung gian môi giới). Do đó, phải xác định là L đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của 13 người nhận chuyển nhượng thửa đất của ông N5, bà C3. Cũng tại các phiên tòa phúc thẩm có lúc L nói đã đặt cọc cho ông N5, bà C3 một khoản tiền nhưng lâu quá không nhớ là bao nhiêu tiền, sau đó ông N5, bà C3 mới ký hợp đồng ủy quyền cho bị cáo; sau khi bị cáo chuyển nhượng thửa đất cho 13 người, thu tổng số tiền 1.330.000.000 đồng thì đã trả cho ông N5, bà C3 700.000.000 đồng; nhưng có lúc thì L lại khai đã trả cho ông N5, bà C3 đủ số tiền 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thu thập chứng cứ, xác minh làm rõ L đã chiếm đoạt của 13 người mua đất tổng số tiền là bao nhiêu, đã trả cho ông N5, bà C3 bao nhiêu tiền là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ cho việc giải quyết đúng đắn, toàn diện và triệt để vụ án.
[1.3] Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm lại xác định L chiếm đoạt của ông D2, bà N số tiền 2.500.000.000 đồng, chiếm đoạt của ông C2 số tiền 300.000.000 đồng và chiếm đoạt của ông K1 số tiền 700.000.000 đồng, mà không xác định L đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 4.950.000.000 đồng của 39 người mua thửa đất của bà Ú; cũng chưa làm rõ số tiền L đã chiếm đoạt của 13 người mua thửa đất của ông N5, bà C3; không xác định 39 người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 291, tờ bản đồ số 22 của bà Ú và 13 người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01 của ông N5, bà C3 là những bị hại trong vụ án là bỏ lọt các hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Thùy L và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[1.4] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/12/2025, bị cáo L tự nguyện rút kháng cáo xin giảm hình phạt. Tuy nhiên, như Hội đồng xét xử đã phân tích, đánh giá thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi phạm tội của L, nên nếu chấp nhận việc rút kháng cáo của L thì quyết định của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự của L sẽ có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với việc rút kháng cáo của bị cáo.
[2] Về hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Phượng H:
[2.1] H làm việc tại Văn phòng C6 và là người làm thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Kim Ú và 39 người mua đất, nên H biết L không phải là một trong các bên của giao dịch này. Do đó, H buộc phải nhận thức được là L không có thẩm quyền đề nghị chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ú với những người mua đất. Nhưng khi L đề nghị H soạn thảo trước Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thì H đã nhận lời giúp L. Khi L đến Văn phòng công chứng để nhận văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng mà không có bà Ú và những người mua đất đi cùng, nhưng H vẫn giao văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cho L, tạo điều kiện cho L giả chữ ký của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng. Quá trình điều tra, tại Biên bản ghi lời khai ngày 24/9/2024, Biên bản ghi lời khai ngày 25/10/2024, L khai việc L làm giả chữ ký trên văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thì H hoàn toàn biết được và đồng ý soạn thảo cho L giả chữ ký với mục đích tiếp tục mang bán hoặc thế chấp cho người khác để lấy tiền trả nợ cho H.
[2.2] Tương tự như đối với thửa đất của bà Ú, H cũng soạn thảo giúp L văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N5, bà C3 (do L đại diện theo ủy quyền) và 13 người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01 của ông N5, bà C3, tạo điều kiện cho L giả chữ ký của 13 người mua đất để vô hiệu hóa hợp đồng, chiếm đoạt tiền của những người mua đất. Quá trình điều tra, L khai đi một mình đến Văn phòng C10 thỏa thuận chấm dứt hợp đồng từ H rồi đem sang bàn đối diện với H để ký giả chữ ký của những người mua đất, đồng thời khẳng định H biết nhưng đồng ý để L tiếp tục mang đất bán hoặc thế chấp cho người khác lấy tiền trả nợ cho H. Trên thực tế, ngày 18/8/2022, L đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 01 của ông N5, bà C3 cho ông Phạm Đình K1 được số tiền 700.000.000 đồng và trích ra 260.000.000 đồng để trả nợ cho H.
[2.3] Về công nợ giữa L và H: H khai nhiều lần cho L vay tiền, đến thời điểm xảy ra vụ án thì L còn nợ H 1.700.000.000 đồng. L cũng có lời khai xác nhận nợ tiền hằng và bị H đòi nhiều lần. Tuy nhiên, L và H đều không cung cấp được chứng cứ chứng minh có việc vay nợ tiền giữa hai bên. Thực tế là sau khi chiếm đoạt được tiền của 39 người mua thửa đất của bà Ú, L chỉ trả cho bà Ú một phần tiền, cũng không trả nợ cho H. Chỉ sau khi vay được tiền của ông D2, bà N thì L mới đưa cho H 800.000.000 đồng và sau khi chuyển nhượng thửa đất của vợ chồng ông N5, bà C3 cho ông K1 thì L đưa tiếp cho H 260.000.000 đồng. Tổng số tiền H nhận của L là 1.060.000.000 đồng. Do đó, cần thu thập chứng cứ, xác minh làm rõ giữa L và H có quan hệ vay mượn tiền hay không, hay số tiền H nhận của L là do L trả công cho H.
[2.4] Như vậy, hành vi của H có dấu hiệu giúp sức cho L thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của những người mua đất. Các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm lại khởi tố, truy tố, xét xử H về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” với số tiền gây thiệt hại là 3.500.000.000 đồng (tương ứng như việc xác định số tiền L chiếm đoạt) là không đúng về việc xác định thiệt hại và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
[3] Về hành vi phạm tội của Trần Tất D1:
Qua các tài liệu, chứng cứ đã được điều tra, thu thập thì không đủ nhận diện D1 có dấu hiệu đồng phạm giúp sức cho L thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của những người bị hại, nhưng đủ cơ sở xác định D1 đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng đối với văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Kim Ú với 39 người mua đất, văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phùng Minh N5, bà Huỳnh Thị Kim C3 với 13 người mua đất, từ đó vô tình tạo điều kiện cho Nguyễn Thị Thùy L chiếm đoạt tiền của những người mua đất; ngoài ra, D1 còn thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Kim P (giả) với ông Hoàng Minh T4, từ đó vô tình tạo điều kiện cho Kim Cẩm H1 chiếm đoạt tiền của ông T4. Các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm khởi tố, truy tố, xét xử D1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ, đúng người đúng tội, nhưng lại xác định số tiền D1 gây thiệt hại là 4.500.000.000 đồng (bao gồm 2.500.000.000 đồng của giao dịch vay tiền giữa L với ông D2, bà N + 300.000.000 đồng của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị N3 với ông C2 + 700.000.000 đồng của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N5, bà C3 (do L đại diện theo ủy quyền) với ông K1 + 1.000.000.000 đồng) là vừa không đúng về tính vấn đề vi phạm, vừa không đúng về số tiền gây thiệt hại, nên đã không phản ánh đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của D1. Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt không phù hợp, đồng thời còn cho D1 hưởng án treo là trái với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022.
[4] Xét việc xác định tư cách tham gia tố tụng và những nội dung kháng cáo của ông D2, bà N:
[4.1] Về xác định tư cách tham gia tố tụng của ông D2, bà N: L được H giới thiệu đến vay tiền của ông D2, bà N. Ông D2, bà N đặt điều kiện là phải có tài sản thế chấp thì mới cho vay và việc thế chấp tài sản phải dưới hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, ông D2, bà N nhận thức rất rõ những hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà ông bà ký kết thực chất chỉ là để che giấu việc thế chấp tài sản, nên theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự thì đây là những giao dịch dân sự giả tạo, bị vô hiệu ngay từ khi xác lập. Hơn nữa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các thửa đất số 496, 497, 498, 499 và 501, cùng tờ bản đồ số 22 là thuộc quyền sử dụng của bà Ú, anh T2 và chị N3, không phải thuộc quyền sử dụng của L. Do đó, ông D2, bà N buộc phải nhận thức tài sản L đem thế chấp cho ông bà không phải tài sản của L, nhưng ông D2, bà N vẫn ký kết hợp đồng với tư cách là bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sau đó cho L vay tiền là ông D2, bà N đã tự nguyện xác lập giao dịch vô hiệu. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định ông D2, bà N tham gia tố tụng với tư cách bị hại là không chính xác. Trong trường hợp này, ông D2, bà N chỉ là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại khoản 4 Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Do đó, lẽ ra Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chỉ xét những nội dung kháng cáo của ông D2, bà N có liên quan đến giao dịch vay tiền giữa L với ông bà. Song xét kháng cáo của ông D2, bà N ngoài nội dung nhằm đảm bảo quyền lợi cho ông bà, thì còn mang tính chất của việc tố giác tội phạm và yêu cầu xử lý hậu quả của tội phạm, nên Hội đồng xét xử sẽ phân tích, đánh giá từng nội dung để nhận diện đúng bản chất vụ án:
[4.2] Về nội dung kháng cáo đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Phạm Kim Ú: Qua các tài liệu chứng cứ đã được các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm điều tra, thu thập thì bà Ú có nhận số tiền 300.000.000 đồng do L đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất; tiếp đó bà Ú đã ra Văn phòng C6 ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho 39 người và theo bà Ú trình bày thì được L đưa tiếp số tiền 2.200.000.000 đồng; sau khi nghe L bảo lại là không thể sang tên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhiều người mà phải làm thủ tục tách thửa đất ra thành 6 thửa thì bà Ú cũng làm theo; tiếp đó, theo yêu cầu của L, bà Ú và các con là anh T2, chị N3 đã ký các hợp đồng chuyển nhượng tổng cộng 05 (năm) thửa đất cho ông D2, bà N. L là người nhận tiền từ ông D2, bà N và sau đó trả cho bà Ú số tiền 1.200.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L đã trả cho bà Ú là 3.700.000.000 đồng; so với số tiền bà Ú và L thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất là 3.690.000.000 đồng thì chênh lệch 10.000.000 đồng. Bà Ú có lời khai xác nhận L đã thanh toán đủ tiền mua thửa đất cho bà. Do đó, không đủ cơ sở xác định bà Ú câu kết, thông đồng với L chiếm đoạt số tiền ông D2, bà N đưa cho L vay, như ông D2, bà N tố giác trong đơn kháng cáo.
[4.3] Về nội dung đề nghị buộc bà Ú phải nộp lại số tiền nhận của L để khắc phục hậu quả: Bà Ú thực tế đã nhận của L tổng số tiền 3.700.000.000 đồng, trong đó có 2.200.000.000 đồng có nguồn gốc do L chiếm đoạt của 39 người mua thửa đất của bà Ú + 1.200.000.000 đồng L có nguồn gốc từ số tiền của ông D2, bà N cho L vay. Ngoài ra, số tiền 300.000.000 đồng L đặt cọc cho bà Ú là tài sản của L. Vì vậy, cần phải buộc bà Ú nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận của L, để đảm bảo thi hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của L đối với những người bị hại, cũng như phần trách nhiệm dân sự của L trong giao dịch vay tiền của ông D2, bà N.
[4.4] Về nội dung đề nghị xem xét mức hình phạt và biện pháp áp dụng đối với Trần Tất D1: Xét ông D2, bà N được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định là bị hại của tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do L thực hiện. Trong khi đó D1 bị truy tố, xét xử sơ thẩm về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, có khách thể là “hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức”. Hơn nữa, ông D2, bà N thỏa thuận với L là cho L vay tiền có tài sản đảm bảo và việc ký kết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Ú, anh T2, chị N3 sang cho ông D2, bà N tại Văn phòng C6 chỉ là hình thức nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của L đối với ông D2, bà N. Ông D2, bà N buộc phải biết L không phải là chủ sử dụng các thửa đất nhưng vẫn chấp nhận ký kết các hợp đồng và cho L vay tiền thì ông D2, bà N phải chịu rủi ro khi L không có khả năng trả nợ. Hiện không có chứng cứ nào thể hiện D1 biết về thỏa thuận giữa ông D2, bà N với L, nên việc D1 công chứng 05 (năm) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ú, anh T2, chị N3 với ông D2, bà N không gây thiệt hại về tài sản cho ông D2, bà N. Như vậy, xét cả về góc độ pháp lý lẫn góc độ thực tiễn thì ông D2, bà N không phải là bị hại của tội phạm “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” do Duy thực H3. Do đó, cho dù được các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm xác định là bị hại thì ông D2, bà N cũng không có quyền kháng cáo về phần hình phạt đối với D1. Hội đồng xét xử phân tích như vậy để ông D2, bà N biết được về địa vị tố tụng của ông bà trong vụ án.
[4.5] Về nội dung đề nghị buộc L, H và D1 phải liên đới trả lại số tiền L đã vay và tiền lãi: L là người vay tiền của ông D2, bà N nên không thể buộc D1, H liên đới trả tiền cho ông D2, bà N. Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ú, anh T2, chị N3 với ông D2, bà N vô hiệu do giả tạo. Giao dịch thế chấp tài sản giữa L với ông D2, bà N cũng vô hiệu do L không phải chủ sử dụng các thửa đất. Nhưng giao dịch vay tiền giữa L với ông D2, bà N vẫn có hiệu lực. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết quyền lợi cho ông D2, bà N.
[5] Về phần trách nhiệm dân sự của Kim Cẩm H1:
Tại tiểu mục 7.12 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Kim Cẩm H1 phải bồi thường cho ông Hoàng Minh T4 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Tuy nhiên, chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án phản ánh thực tế ông T4 chỉ chuyển khoản cho H1 số tiền 950.000.000 đồng. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm Hường không kháng cáo, nhưng ngày 26/12/2025, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận được “Đơn trình bày ý kiến” của ông Hoàng Minh T4, trong đơn ông T4 xác nhận ông chỉ chuyển khoản cho H1 số tiền 950.000.000 đồng, đề nghị điều chỉnh lại đúng số tiền và xin giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung buộc bà Nguyễn Thị Liên C4 có nghĩa vụ nộp lại số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo Kim Cẩm H1 trong phần trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho ông. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về số tiền buộc Kim Cẩm H1 phải bồi thường cho ông Hoàng Minh T4 là 950.000.000 đồng.
[6] Về việc Trần Tất D1 và Nguyễn Thị Phượng H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho những người mua thửa đất của bà Ú và những người mua thửa đất của ông N5, bà C3: Quá trình tố tụng ở sơ thẩm cũng như tại các phiên tòa phúc thẩm, D1 và H khai nhận đã chi phí tổng số tiền 2.310.000.000 đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng một thửa đất để đền bù thiệt hại cho một số người trước đây ký kết hợp đồng mua đất của bà Ú hay của ông N5, bà C3, ngoài ra có một số người không chịu nhận đất thì được D1 và H bồi thường bằng tiền. Trong hồ sơ vụ án cũng có nhiều xác nhận của những người trước đây mua đất của bà Ú hay của ông N5, bà C3 là đã được bồi thường, không còn thắc mắc gì. Tuy nhiên, L là người có hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của những người đã mua đất của bà Ú hay mua đất của ông N5, bà C3, nên L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người bị hại. Các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, làm rõ tổng số tiền mà D1 và H đã chi phí để bồi thường thiệt hại cho những người bị hại là bao nhiêu, còn ai chưa được bồi thường, chưa xác định quyền của D1 và H được yêu cầu L phải bồi hoàn là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ và không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của D1 và H. Trong trường hợp H được xác định là đồng phạm với L thì trách nhiệm dân sự của H đối với những người bị hại sẽ được giải quyết theo các quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 355, Điều 357, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N, xử:
- Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để điều tra lại về trách nhiệm hình sự của Nguyễn Thị Thùy L, Trần Tất D1, Nguyễn Thị Phượng H (được ghi tại các mục 1, 3, 4 và 5 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự của Nguyễn Thị Thùy L đối với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N, ông Trần Huy C2 và ông Phạm Đình K1 (được ghi tại tiểu mục 7.12 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự được ghi tại các tiểu mục 7.15 và 7.16 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm.
-
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về trách nhiệm dân sự của Kim Cẩm H1 đối với ông Hoàng Minh T4 (được ghi tại tiểu mục 7.12 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm) và về án phí dân sự sơ thẩm Kim Cẩm H1 phải chịu (được ghi tại mục 9 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm) như sau:
- Buộc Kim Cẩm H1 phải bồi thường cho ông Hoàng Minh T4 số tiền 950.000.000 (chín trăm năm mươi triệu) đồng.
- Buộc Kim Cẩm H1 phải chịu 40.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về trách nhiệm hình sự của Kim Cẩm H1 (được ghi tại mục 2 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về xử lý vật chứng (được ghi tại mục 6 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự (được ghi tại các tiểu mục từ 7.1 đến 7.11 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự của bà Nguyễn Thị Liên C4 (được ghi tại tiểu mục 7.13 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về án phí hình sự sơ thẩm đối với Kim Cẩm H1 (được ghi tại mục 8 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm) không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 23, 26, 27 và 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xác định:
- Về án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Thùy L, Trần Tất D1 và Nguyễn Thị Phượng H không phải chịu án phí sơ thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm của các bị cáo sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án.
-
Về án phí phúc thẩm:
- Nguyễn Thị Thùy L không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Ông Lê Văn D2 và bà Nguyễn Thúy N không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Chuyển giao hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh để giải quyết lại những phần bản án sơ thẩm đã bị hủy theo thủ tục chung.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Anh Văn |
19
Bản án số 689/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 689/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 355, Điều 357, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N, xử: 1. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để điều tra lại về trách nhiệm hình sự của Nguyễn Thị Thùy L, Trần Tất D1, Nguyễn Thị Phượng H (được ghi tại các mục 1, 3, 4 và 5 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự của Nguyễn Thị Thùy L đối với ông Lê Văn D2, bà Nguyễn Thúy N, ông Trần Huy C2 và ông Phạm Đình K1 (được ghi tại tiểu mục 7.12 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm); về trách nhiệm dân sự được ghi tại các tiểu mục 7.15 và 7.16 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm. 2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về trách nhiệm dân sự của Kim Cẩm H1 đối với ông Hoàng Minh T4 (được ghi tại tiểu mục 7.12 mục 7 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm) và về án phí dân sự sơ thẩm Kim Cẩm H1 phải chịu (được ghi tại mục 9 trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm)
