Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 689/2025/DS-PT

Ngày 18-6-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, tranh chấp lối đi chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 180/2024/TLPT-

DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu

hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2023

của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1736/2025/QĐ-PT ngày

27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm: 1967; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh

Lâm Đồng; (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị V, sinh năm: 1965; cư trú tại thôn Đ, xã

N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (có mặt).

- Bị đơn: Bà Mai Thị T; sinh năm: 1965; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm

Đồng; (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Phúc Â, sinh năm: 1960; cư trú tại số E

H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ; (xin vắng mặt).

  3. Bà Đinh Thị V, sinh năm: 1965; cư trú tại Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (có mặt).
  4. Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm: 1988; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  5. Chị Đặng Thị Thu H1, sinh năm: 1991; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  6. Chị Đặng Thị Thu H2, sinh năm: 1997; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  7. Ông Bùi Văn D, sinh năm: 1970; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  8. Bà Trần Thị Thu H3, sinh năm 1992; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  9. Anh Nguyễn Tiến N, sinh năm: 1992; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).
  10. Chị Nguyễn Thu T1, sinh năm 1993; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (có mặt).
  11. Chị Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm: 1995; cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt).

- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị M1 là nguyên đơn, bà Mai Thị T là bị

đơn, bà Đinh Thị V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2019, bản tự khai và lời trình bày của bà

Vũ Thị M, do bà Đinh Thị V đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 2010 ông Ngô Thanh T3 sang nhượng cho gia đình bà M diện tích đất khoảng 7.000m², trong đó có một phần diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH219369 ngày 19/01/2012. Quá trình sử dụng đất bà T lấn chiếm diện tích khoảng 1.527,6m² thuộc thửa 58, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2007/DS-ST ngày 29/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và Bản án dân sự phúc thẩm số 186/2007/DS-PT ngày 28/11/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã giải quyết: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T3, buộc bà T trả lại diện tích đất 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng”. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành quyết định cưỡng chế giao quyền sử dụng

đất, buộc bà T trả lại cho ông T3 diện tích đất 3.873m² và lập biên bản cưỡng chế giao tài sản ngày 04/12/2008, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giao đất tại Ủy ban nhân dân xã T chứ không giao đất trên thực địa (theo biên bản đã lập). Ngày 04/8/2014 điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375139 bà M thấy có sai sót nhưng tại thời điểm đó ông H4 chồng bà M bị lâm bệnh nặng nên bà M không có điều kiện thắc mắc. Vợ chồng ông H4, bà M đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375139 ngày 14/8/2014 đối với diện tích 2.784,9m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, đăng ký biến động sang tên bà V ngày 18/4/2017. Quá trình sử dụng đất bà T không trả lại đất mà tiếp tục lấn chiếm đất, do đó Mến khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất khoảng 1.527,6m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS785767 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho hộ bà Mai Thị T đối với diện tích đất 4.837m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại thôn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn bà Mai Thị T, ông Trương Phúc  là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 1993 đến năm 1998 gia đình bà T khai hoang được 04 thửa đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (gồm thửa 11, 58, 59 và 60), được chính quyền địa phương và Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ đo đạc, bản đồ năm 1998, tờ bản đồ cũ 29 (bản đồ mới là 24). Năm 1999 bà T cho ông Mai Xuân D1 sử dụng một phần diện tích đất thuộc thửa 58, diện tích là 3.000m². Năm 2007 ông D1 sang nhượng cho ông Ngô Thanh T3, năm 2012 ông T3 chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông H4, bà M. Năm 2014 khi bà T mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp tại Ngân hàng và nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 14/8/2014 bà T được cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS785767, tháng 4/2017 bà M sang nhượng lại diện tích đất nói trên cho bà V. Ngày 19/01/2012 Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH219369 cho ông H4, bà M đối với diện tích đất thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng diện tích là 3.873m² đất trồng cây hàng năm khác theo hợp đồng chuyển nhượng đất với hộ ông T3, tuy nhiên diện tích đất nói trên là không đúng thực tế sử dụng, lấn sang của bà T. Do đó, bà T đã có đơn yêu cầu đo đạc, xác minh, điều chỉnh lại diện tích đất để đúng thực tế sử dụng đất. Ngày 25/4/2014 cơ quan chức năng đã tiến hành xác minh, đo đạc lại thửa 58 của bà M sử dụng và thửa 59 của bà T sử dụng. Kết quả xác minh có sự chỉ ranh và thống nhất của bà M, bà T tại biên bản làm việc ngày 25/4/2014 và ông H4, bà M đề nghị được điều chỉnh lại diện tích đất theo ranh giới thực tế của hai bên gia đình (tại báo cáo số 249/BC-TNMT ngày 23/8/2017 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ). Ngày 20/5/2014 bà M tự làm đơn yêu cầu cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó ghi lý do “điều chỉnh diện tích đất thực tế sử dụng đất”, xin

điều chỉnh diện tích thửa 58, tờ bản đồ số 29, diện tích 3.873m² xuống còn diện tích 2.784,9m².

Ngày 14/8/2014 Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ có Văn bản số 4939/TBBĐ-VPĐK về việc chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính. Ngày 14/8/2014 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375767 cho hộ bà T đối với diện tích 4.837m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375139 ngày 14/8/2014 vợ chồng ông H4, bà M không thắc mắc, khiếu nại gì.

Ngày 12/4/2017 vợ chồng ông H4, bà M chuyển nhượng diện tích đất 2.784,9m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375139 ngày 14/8/2014 cho bà V theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C1 chứng thực số 1380, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/4/2017 và sang tên cho bà V ngày 18/4/2017.

Sau khi chuyển nhượng đất bà V, bà M gửi đơn đến Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU375139 ngày 14/8/2014 đã cấp đổi cho ông H4, bà M và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M đối với diện tích 3.873m². Ngày 11/9/2017 Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ban hành Văn bản số 434/UBND-ĐT về việc trả lời đơn của bà M và trả lời không có cơ sở xem xét đơn của bà M. Do đó bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Đinh Thị V:

Năm 2017 bà nhận chuyển nhượng của ông H4, bà M diện tích đất khoảng 7.000m², trong đó diện tích đất 2.784m² thuộc thửa 58 và một phần thửa 57 chưa được sang tên, một phần diện tích đất và con đường đi chung, bà có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích quyền sử dụng đất diện tích khoảng 700m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU375139 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho ông Đặng Văn H4, bà Vũ Thị M, đăng ký biến động tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên sang tên cho bà Đinh Thị V ngày 18/4/2017.
  • + Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất khoảng 50m² (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), thuộc thửa 06 (bản đồ mới), tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất là con đường đi diện tích đất khoảng 50m chiều dài (đo đạc thực tế là 366,1m²) tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có văn bản trình bày:

Thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có nguồn gốc do ông D2 (đã chết), bà T khai phá vào năm 1996, năm 1998 cho ông Mai Xuân D1 (em trai bà T sử dụng). Năm 2002 ông D1 sang nhượng cho vợ chồng ông H4, bà M, hộ ông T3 đã đăng ký kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 5.837m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X236418 ngày 06/6/2003 theo Quyết định số 935/QĐ-UB, diện tích là 5.837m² đất trồng cây hàng năm khác. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 là đúng quy định của pháp luật. Ngày 03/10/2001 bà T đăng ký kê khai 02 thửa đất, gồm thửa 58 diện tích 3.873m² và thửa 59 diện tích 5.530m², cùng tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do ông D2 (chồng bà T) đăng ký. Đến ngày 08/12/2003 hộ bà T được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y319933 đối với thửa 58, 59, tờ bản đồ số 29, xã T nêu trên. Mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm theo Quyết định số 1830/QĐ-UB, thửa 58 là thửa đất mà trước đây bà T đã cho ông Mai Xuân D1, sau đó ông D1 chuyển nhượng cho ông T3 vào năm 2002, ông T3 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đơn đăng ký quyền sử dụng đất của bà T ngày 03/10/2001 thì số người đồng sử dụng là 06 người. Tuy nhiên, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thất lạc, chứng minh, hộ khẩu của hộ bà T kèm theo nên không thể xác định được tại thời điểm cấp cho hộ bà T gồm những ai.

Năm 2007 ông T3 và bà T tranh chấp đối với thửa 58, tờ bản đồ 29, xã T, huyện Đ được cấp hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã giải quyết tại Bản án số 186/2007/DS-PT ngày 28/11/2007, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng đã ban hành quyết định cưỡng chế số 55/QĐ-THA ngày 17/11/2008 về việc cưỡng chế quyền sử dụng đất, buộc bà T trả lại diện tích 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho ông T3 và kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ hủy thửa số 58, tờ bản đồ số 29, xã T trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y319933 mang tên hộ bà Mai Thị T. Theo xác nhận ngày 09/11/2011 của Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Đ đã chỉnh lại diện tích của thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X236418 ngày 06/6/2003 mang tên ông T3 là 3.873m², hộ ông T3 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông H4, bà M theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng chứng thực số 74, quyển số 01/TPCC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2011.

Ngày 19/01/2012 vợ chồng ông H4, bà M đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH219369 đối với thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, với diện tích đất được cấp là 3.873m² đất trồng cây hàng năm khác theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông T3 và bà M. Năm 2014 bà M có đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với lý do điều chỉnh diện tích đất thực tế sử dụng và do đổi số chứng minh nhân dân.

Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, bà Mai Thị T và bà M đã tiến hành đo đạc lại hiện trạng diện tích đất đối

với thửa 58 do bà M sử dụng và thửa 59 do bà T sử dụng. Kết quả đo đạc, xác minh có sự chỉ ranh giới và thống nhất của bà M, bà T tại Biên bản làm việc ngày 25/4/2014, ông H4, bà M đề nghị điều chỉnh lại diện tích đất ranh giới thực tế của hai bên gia đình, từ kết quả đo đạc xác minh của văn phòng Đ, phòng T có tờ trình số 250/TTr-TNMT ngày 05/8/2014 kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ điều chỉnh lại diện tích đất và cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông H4, bà M và hộ bà T. Theo kết quả xác minh, có sự chỉ ranh giới thống nhất của ông H4, bà M và bà T thì thửa 58, diện tích 3.873m², tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ do ông H4, bà M sử dụng được điều chỉnh diện tích là 2.784,9m², giảm 1.088,1m², trong đó giảm 794,6m² do sử dụng sai ranh, giảm 237,4m² do nằm trong đất thu hồi của dự án Thủy điện Đại Ninh theo Quyết định số 2245/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh L và 56,1m² do tính toán sai diện tích trong quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa 59 diện tích 3.150m², tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ do bà T sử dụng được điều chỉnh lại diện tích 4.837m², trong đó tăng 794,6m² do sử dụng sai ranh và tăng 892,4m² do tính toán sai diện tích trong quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 14/8/2014 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã ban hành Quyết định số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ về việc chấp thuận điều chỉnh diện tích, thu hồi và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông H4, bà M và hộ bà T, theo nội dung điều chỉnh diện tích đất thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, có diện tích 2.784,9m² HNK, chấp thuận cho bà T được điều chỉnh diện tích đất đối với thửa 59, tờ bản đồ số 29, xã T, có diện tích là 4.837m² cây lúa nước. Đồng thời thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y319933 cấp ngày 08/12/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU375139 cho ông H4, bà M đối với thửa 58, diện tích 2.784,9m² HNK, tờ bản đồ số 29, xã T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS785767 mang tên bà Mai Thị T đối với thửa 59, diện tích 4.837m² CLN, tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, trình tự, thủ tục cấp đổi được thực hiện đúng quy định.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị Thu H, chị Đặng Thị Thu H1, chị Đặng Thị Thu H2 trình bày: Các anh chị là con của ông H4, bà M, ông H4 chết ngày 17/6/2017. Nguồn gốc đất tranh chấp các anh chị không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn D trình bày: ông là người sử dụng đất cùng với bà T, diện tích đất là do bà T khai phá, năm 2006 ông chung sống với bà T không đăng ký kết hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 08/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:

“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M về tranh chấp: “Quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với

bà Mai Thị T đối với diện tích đất 1.448,4m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, tranh chấp đường đi chung” đối với bà Mai Thị T.

3. Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 736,5m² thuộc một phần thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho bà Đinh Thị V.

3.1. Công nhận đường đi có diện tích 366,1m² (trong đó có 343,6m² thuộc thửa 11 và 22,5m² thuộc đường Quốc lộ 20), tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là đường đi chung của hộ bà Mai Thị T, bà Đinh Thị V.

3.2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V về việc yêu cầu bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 50m² (đo đạc thực tế là 47,8m²), thuộc thửa 06, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

(Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 13/10/2023 kèm theo)”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 20/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận được đơn kháng cáo của bị đơn bà Mai Thị T. Nội dung kháng cáo: Bà Mai Thị T không đồng ý với một phần Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị V về việc buộc bà T phải trả cho bà V diện tích đất 784,3m² và lối đi chung diện tích 366,1m². Buộc bà V phải trả lại cho bà T diện tích đất bà V lấn chiếm thuộc thửa 58, 59 tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có chiều ngang 07m x chiều dài 36m = 252m².

Ngày 22/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận được đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị M. Nội dung kháng cáo: Bà Vũ Thị M không đồng ý với toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ và sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.

Ngày 22/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận được đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V. Nội dung kháng cáo: Bà Đinh Thị V không đồng ý với một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ và sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà V.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị M; bà Đinh Thị V; bà Mai Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bà Đinh Thị V trình bày: Năm 2014, bà M không có đơn yêu cầu điều chỉnh diện tích mà do cán bộ của Chi nhánh Văn phòng Đ, khi phát hiện cấp đổi thiếu diện tích, bà M có đi khiếu nại nhưng không chấp nhận, do điều kiện ông H4 bị bệnh nên bà M không có điều kiện đi khiếu nại, hồ sơ điều chỉnh không hề có đo đạc, xác minh phần đất bị bà T lấn chiếm 1.527,6m² (đo thực tế là 1.448,4m²) của thửa 58, yêu cầu chấp nhận kháng cáo của bà M buộc bà T trả lại phần đất này. Đối với phần bà T lấn chiếm của tôi 736,5m² án sơ thẩm chấp nhận buộc bà T trả lại, theo số liệu chi tiết trích đo diện tích ngày 23/5/2025 thì phần bà T phải trả cho tôi là phần đất tranh chấp 736,5m² và phần F diện tích 22,7m² thuộc thửa số 58 của bà M chuyển nhượng cho tôi bị bà T lấn chiếm và tôi đồng ý giao trả phần C diện tích 214m² và phần D diện tích 118,6m² do 2 phần này theo kết quả điều chỉnh từ thửa 59 của bà T qua cho bà M không đúng, tôi tự nguyện giao trả cho bà T. Đối với phần lối đi đồng ý theo án sơ thẩm là lối đi chung, không nằm trong phần tranh chấp ranh. Về diện tích 50m² thực tế đo 47,8m²) tôi xin rút lại kháng cáo.

Bị đơn bà Mai Thị T trình bày: Bà M, bà V khởi kiện cho rằng tôi lấn ranh là không đúng, phần tranh chấp của bà M là thuộc thửa 59 tôi được cấp quyền sử dụng khi đo đạc chỉ ranh có ông H4 và bà M, còn phần của bà V đo xác định thửa 58 là đúng. Bà V nhận chuyển nhượng có 2.784,9m² nhưng thực tế sử dụng đất nhiều hơn không bị thiếu đất, còn tôi vẫn bị thiếu diện tích.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Trương Phúc  trình bày: Bà M không có quyền khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà T, vì bà M đã chuyển nhượng hết đất cho bà V, quá trình điều chỉnh giảm diện tích bà M không có khởi kiện Giấy chứng nhận, quyết định điều chỉnh. Bà V nhận chuyển nhượng có 2.784,9m² nhưng thực tế sử dụng đất 4.876,8m² theo Bản vẽ ngày 25/9/2023 nhiều hơn, không bị thiếu đất, còn bà T vẫn bị thiếu diện tích 2.543,2m² nên buộc bà T trả là không có căn cứ. Về lối đi, Tòa án sơ thẩm tuyên lối đi chung bà T không đồng ý vì nó thuộc thửa 58 khi thỏa thuận, nay thay đổi lối đi này vì các bên không còn sử dụng, bà T mở lối đi trên thửa 59 nên không đồng ý, lối đi này không nằm trong phần tranh chấp ranh. Phần đất thuộc thửa 59 bị bà V lấn chiếm, quản lý sử dụng 7m x 36m = 252m² bà V phải giao trả lại, bà V đồng ý trả phần đó là phù hợp với yêu cầu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung: Căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 186/2007/DS-PT ngày 28/11/2007 của TAND tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa 58 giữa ông Ngô Thanh T3 và bà Mai Thị T là bị đơn đã xác định diện tích đất tranh chấp: 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại xã T, huyện Đ buộc bà T phải giao trả cho ông T3. Năm 2010, ông T3 đã chuyển nhượng cho ông H4 và bà M đã được cấp Giấy chứng nhận năm 2012. Quá trình sử dụng đất bà M bị bà T lấn chiếm và việc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành

Quyết định số 2102/2014/QĐ-UB ngày 12/8/2014 điều chỉnh, thu hồi cấp lại giảm diện tích của bà M là không đúng. Căn cứ hồ sơ trích đo và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, bà V. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà M buộc bà T có trách nhiệm trả lại diện tích 1.448,4m² thuộc một phần của thửa 58 và buộc bà T trả 736,5m² thuộc một phần thửa 58. Hủy Giấy chứng nhận cấp cho bà T năm 2014 và Quyết định số 2102/2014. Ghi nhận bà V trả lại các phần diện tích thuộc thửa 59 bị điều chỉnh sai cho bà M do bà M đã chuyển nhượng cho bà V phần C-214m² và phần D-118,6m². Chấp nhận rút kháng cáo của bà V, đình chỉ xét xử phúc thẩm phần diện tích bà V yêu cầu bà T trả 50m² (thực tế đo 47,8m²).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà Vũ Thị M, Mai Thị T, Đinh Thị V được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự vắng mặt và xin vắng mặt đã được tống đạt hợp lệ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của bà Vũ Thị M, Mai Thị T, Đinh Thị V, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M với bà Mai Thị Toàn diện T4: 1.527,6m² (thực tế đo 1.448,4m²):

[2.1.1] Ông Đặng Văn H4 và bà Vũ Thị M là chủ sử dụng đất có diện tích 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do nhận chuyển nhượng của ông Ngô Thanh T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T5 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X236418 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/6/2003 và được cập nhật biến động ngày 19/01/2012. Nguồn gốc phần đất của bà M nhận chuyển nhượng của ông T3 căn cứ Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2007/DS-ST ngày 29/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và Bản án dân sự phúc thẩm số 167/2007/DS-PT ngày 29/8/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa 58 giữa ông Ngô Thanh T3 là nguyên đơn và bà Mai Thị T là bị đơn đã xác định diện tích đất tranh chấp: 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y319933 ngày 08/12/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho ông D2, bà T là sai, cấp trùng lên phần diện tích đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Thanh T3, các Bản án nói trên đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thanh T3, buộc bà T trả lại

cho ông T3 diện tích đất: 3.873m² thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình thi hành án, biên bản làm việc, biên bản cưỡng chế giao tài sản ngày 04/12/2008, bàn giao đất và ông T3 thanh toán giá trị tài sản cho bà T theo nội dung biên bản cưỡng chế thi hành án, hình thể thửa đất được thể hiện trên Giấy chứng nhận và trích lục bản đồ địa chính ngày 10/7/2007 (BL22, 23) của hồ sơ tranh chấp do Tòa án giải quyết năm 2007. Ngày 19/01/2012 vợ chồng ông H4, bà M đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH219369 đối với thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, với diện tích đất được cấp là 3.873m².

[2.1.2] Căn cứ Quyết định số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ ngày 14/8/2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc chấp thuận điều chỉnh diện tích, thu hồi và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông H4, bà M và hộ bà T, cụ thể: điều chỉnh diện tích đất thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, có diện tích 2.784,9m² HNK, chấp thuận cho bà T được điều chỉnh diện tích đất đối với thửa 59, tờ bản đồ số 29, xã T, có diện tích là 4.837m² CLN. Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y319933 cấp ngày 08/12/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 219369 ngày 19/01/2012; cấp đổi 02 giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS785767 mang tên bà Mai Thị T đối với thửa 59/4.837m² CLN và Giấy chứng nhận BU 357139 cho cho ông Đặng Văn H4, bà Vũ Thị M đối với thửa 58/2.784,9m² HNK, tờ bản đồ số 29, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng không xem xét đến các bản án giải quyết tranh chấp nêu trên đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, việc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ ngày 14/8/2014 thu hồi, điều chỉnh ranh giới, cấp lại giấy chứng nhận cho bà M, ông H4 và bà T dựa trên hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, Ủy ban nhân dân huyện Đ cung cấp nhận thấy: Căn cứ theo Tờ trình số 2570/TTr-TNMT ngày 05/8/2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ điều chỉnh lại diện tích đất và cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông H4, bà M và hộ bà T “dựa trên cơ sở đơn yêu cầu đề nghị cấp đổi của bà M ngày 20/5/2014, Biên bản xác minh, đo đạc chỉ ranh giới thống nhất của bà M, bà T tại Biên bản làm việc ngày 25/4/2014, ông H4, bà M đề nghị điều chỉnh lại diện tích đất ranh giới thực tế của hai bên gia đình, từ kết quả đo đạc xác minh của Văn phòng đăng ký đất đai”, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân huyện Đ không cung cấp được Biên bản xác minh đo đạc có sự thống nhất chỉ ranh của bà M, bà T ngày 25/4/2014, Bản đồ đo đạc ngày 19/5/2014 không có sự chứng kiến của bà M; Biên bản làm việc ngày 25/4/2014 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ghi nhận nội dung làm việc do “căn cứ theo đơn yêu cầu của bà Mai Thị T về việc hủy thửa đất số 58 theo giấy chứng nhận ....”, không phải xuất phát từ tranh chấp ranh đất giữa bà T với bà M hay do cơ quan điều tra, thanh tra kết luận việc cấp đất sai đối tượng, sai diện tích, không xem xét đến diện tích 3.873m² tranh chấp tại các bản án giải quyết đã có hiệu lực pháp luật và kết quả giao đất của bà T cho ông T3, việc thu hồi đất làm

thủy điện của thửa 58 của bà M nhưng không có thủ tục thu hồi, đền bù nên không có cơ sở để chứng minh. Do đó, xét về trình tự, thủ tục tiến hành thu hồi, cấp đổi, điều chỉnh giảm diện tích của 58 của bà M và tăng diện tích thửa 59 của của bà T do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS785767 mang tên bà Mai Thị T đối với thửa 59/4.837m² CLN theo Quyết định số số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ là không đúng theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 76, khoản 4 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bà M, ông H4 nên bà M khởi kiện yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận của bà T là có cơ sở chấp nhận.

[2.1.3] Căn cứ Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 31/10/2023 của Công ty TNHH A thể hiện phần tranh chấp giữa bà M với bà T có diện tích 1.527,6m² (thực tế đo 1.448,4m²) thuộc một phần của thửa 59 theo Giấy chứng nhận số BS785767 mang tên bà Mai Thị T theo Quyết định số số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ và thuộc phần của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH219369 thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, diện tích 3.873m² cấp cho ông H4, bà M. Đối chiếu với diện tích sử dụng thực tế của thửa 58 hiện nay theo số liệu do Công ty TNHH A cung cấp ngày 23/5/2025 và Họa đồ đo đạc ngày 31/10/2023 bà V quản lý sử dụng là: phần A diện tích 1.764,2m²; phần tranh chấp của bà V do bà T sử dụng: 736,5m² và phần F diện tích 28,7m². Như vậy, diện tích của thửa 58 theo Giấy chứng nhận cấp năm 2012 cho bà M có diện tích hiện tại là 3.971,8m² ( 1.764,2 + 736,5 + 22,7 +1.448,4) gần tương đương với giấy chứng nhận cấp cho bà M là 3.873m².

[2.1.4] Với các căn cứ trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà M đòi bà T trả lại diện tích 1.448,4m² thuộc một phần của thửa 58 là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS785767 mang tên bà Mai Thị T đối với thửa 59/4.837m² CLN, đối với Quyết định số số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ ngày 14/8/2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Văn bản giải quyết khiếu nại số 434 ngày 11/9/2017 của UBND huyện Đ giải quyết khiếu nại giữ y Quyết định 2102 là các quyết định hành chính có liên quan trái pháp luật nên cần phải hủy bỏ theo quy định.

[2.2] Đối với yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V với bà Mai Thị T yêu cầu bà T trả lại diện tích đất khoảng 700m² (đo đạc thực tế là 736,5m²):

[2.2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU375139 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho ông Đặng Văn H4, bà Vũ Thị M, đăng ký biến động tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên sang tên cho bà Đinh Thị V ngày 18/4/2017 có diện tích 2.784,9m² thuộc thửa 58. Căn cứ Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 31/10/2023 của Công ty TNHH A thể hiện phần tranh chấp giữa bà V với bà T có diện tích 700m² (thực tế đo 736,5m²) thuộc một phần của thửa 58 theo giấy chứng nhận số BH219369 thửa 58, tờ bản đồ số 29, xã T, diện tích 3.873m² cấp cho ông

H4, bà M và một phần thửa 58 của bà V năm 2017. Đối chiếu với diện tích sử dụng thực tế của thửa 58 hiện nay theo số liệu do Công ty TNHH A cung cấp ngày 23/5/2025 và Họa đồ đo đạc ngày 31/10/2023 bà V quản lý sử dụng là: phần A diện tích 1.764,2m², phần C diện tích 214m² và phần D diện tích 118,6m² thuộc thửa 59 cấp cho bà T năm 2003; phần tranh chấp do bà T sử dụng: 736,5m² và phần D diện tích 22,7m². Như vậy, diện tích của thửa 58 theo giấy chứng nhận có diện tích hiện tại là 2.784,9m² thực tế bà V sử dụng: 2.096,8m² (1.764,2 + 214 + 118,6) thiếu 716,5m² so với giấy chứng nhận cấp cho bà V, nếu cộng cả phần tranh chấp 736,5m² thì bà V có diện tích sử dụng là 2.833,3m² thừa so với giấy chứng nhận 48,4m². Tuy nhiên, việc điều chỉnh diện tích theo quyết định 2102 và cấp GCN của UBMD huyện Đ không đúng, trong đó phần điều chỉnh cho bà M phần C diện tích 214m² và phần D diện tích 118,6m² thuộc thửa 59 cấp cho bà T năm 2003 không đúng quy định nên diện tích thực tế của bà V sử dụng là 1.768,9m² (1.764,2 + 22,7) cộng phần tranh chấp 736,5m là 2.523,4m², thiếu 261,5m² so với giấy chứng nhận cấp. Do đó, việc bà V khởi kiện buộc bà T trả lại phần diện tích lấn chiếm là 736,5m² là có căn cứ được chấp nhận, đồng thời do bà V sử dụng phần diện tích không đúng phần C diện tích 214m² và phần D diện tích 118,6m² thuộc thửa 59, tại phiên tòa phúc thẩm bà V tự nguyện trả cho bà T và đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận đã cấp cho bà V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU375139 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho ông Đặng Văn H4, bà Vũ Thị M, đăng ký biến động tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên sang tên cho bà Đinh Thị V ngày 18/4/2017 có diện tích 2.784,9m² thuộc thửa 58 là có cơ sở được chấp nhận.

[2.2.2] Xét yêu cầu của bà V yêu cầu bà T trả diện tích đất 50m² (đo đạc thực tế là 47,8m²) chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng: Tại phiên tòa phúc thẩm bà V tự nguyện rút kháng cáo, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm.

[2.3] Xét yêu cầu của bà V yêu cầu bà T trả lại diện tích đất là con đường đi diện tích đất khoảng 50m chiều dài (đo đạc thực tế là 366,1m²) tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thấy rằng: Căn cứ theo giấy sang nhượng đất làm đường đi ngày 02/2/2003 thể hiện “Hôm nay ngày 02/02/2003 tôi là Nguyễn Tiến D2, Mai Thị T, Phạm Văn Q, Phạm Văn H5, Phan Quốc K, theo sự thỏa thuận của vợ chồng anh D2, chị T để lại cho 04 gia đình như trên một con đường đi (từ đường L đi T và B (Bình Thuận), qua thửa số 58, 59, 60, bề ngang con đường 05, 06m, dài theo giữa thửa 58, bao quanh lô 58 và sát đất ông Q đi vào thửa 59, xuống đất thửa 60, 61, xuống đất ông H5, tờ bản đồ số 29, cả 04 gia đình đều tham gia xây dựng con đường, ông Q và ông K thù lao cho ông D2 200.000đ và phá bao nhiêu cây cà phê thỏa thuận thêm. Tại giấy sang nhượng đất ngày 10/3/2017 giữa vợ chồng ông H4, bà M và bà V thể hiện “...đất có đường đi chung với bà Mai Thị T nêu ở biên bản ngày 18/11/2014”. Tại giấy sang nhượng đất ngày 10/3/2017 của vợ chồng ông H4, bà M thể hiện “Vợ chồng ông H4, bà M đồng ý sang nhượng lại cho bà Đinh Thị V phần đất cà phê từ cổng xuống độ 25 cây cà phê giáp đất anh

H4, phía đông, phía tây giáp quốc lộ B, hai bên đồng ý sang nhượng tạo điều kiện cho bà V có đường đi, hai bên thỏa thuận với giá 25.000.000đ, vợ chồng ông H4, bà M đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà V sử dụng”. Đồng thời, với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn có đồng ý để diện tích đất nói trên là đường đi nội bộ cho các hộ dân và tại phiên tòa bà T cũng thừa nhận phần diện tích đất đường đi này bà đã nhận tiền thanh toán của các hộ dân và đồng ý để làm đường đi, hiện thuộc thửa 11 hiện nay do bà T quản lý, sử dụng bà T cho rằng lối đi thuộc thửa 58 là có cơ sở. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà V yêu cầu bà T trả lại diện tích đất con đường đi và xác định diện tích đất này là lối đi chung của hộ bà Mai Thị T và bà Đinh Thị V là phù hợp, bà V và bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không chấp nhận.

[3] Từ các phân tích và nhận định nêu trên, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M, yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là chưa đúng pháp luật; nguyên đơn kháng cáo có cở sở được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị T và một phần kháng cáo của bà Đinh Thị V.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà M, không chấp nhận kháng cáo của bà T, bà V sửa một phần bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị.

[5] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá tổng số tiền 81.438.000đ (trong đó bà V đã nộp và quyết toán xong 71.138.000đ; bà T đã nộp và quyết toán xong số tiền 5.700.000₫).

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn bà M nên buộc bà V phải chịu ½ chi phí này là: 40.719.000đ, bà T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà V 40.719.000₫.

Bà V, bà T phải chịu ½ chi phí còn lại 40.719.00đ, mỗi người phải chịu số tiền là 20.359.500đ do một phần yêu cầu của bà V được chấp nhận và một phần bà V phải chịu. Bà Mai Thị T đã tạm nộp và quyết toán xong số tiền 5.700.000đ nên bà T phải trả lại cho bà V số tiền 14.659.500đ.

Tổng cộng bà T phải chịu và hoàn trả cho bà V là: 55.378.500đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn năm trăm đồng).

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí dân sự phúc thẩm: bà Vũ Thị M không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận. Do không chấp nhận kháng cáo nên bà Mai Thị T, bà Đinh Thị V phải nộp án phí.

- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Mai Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của bà M, bà V được chấp nhận, án phí tổng cộng 600.000 đồng. Bà Đinh Thị V phải nộp án phí 300.000đồng.

Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 289; khoản 2 Điều 308, Điều 148, 157, 158, 165, 166, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Chấp nhận rút một phần kháng cáo của bà Đinh Thị V. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 50m² (đo đạc thực tế là 47,8m²), thuộc thửa 06, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2/. Chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị M, không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị T, Đinh Thị V. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 08/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cụ thể tuyên:

Căn cứ: khoản 3, 9, 11 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 157, 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, các khoản 1, 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M về tranh chấp: “Quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

1.1. Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 1.448,4m² thuộc một phần thửa 59, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho bà Vũ Thị M.

1.2. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS785767 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho hộ bà Mai Thị T đối với diện tích đất 4.837m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại thôn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hủy Quyết định số 2102/QĐ-UBND-ĐĐ ngày 14/8/2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Văn bản giải quyết khiếu nại số 434 ngày 11/9/2017 của UBND huyện Đ giải quyết khiếu nại.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, tranh chấp đường đi chung” đối với bà Mai Thị T.

2.1. Buộc bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 736,5m² thuộc một phần thửa 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho bà Đinh Thị V.

2.2. Công nhận đường đi có diện tích 366,1m² (trong đó có 343,6m² thuộc thửa 11 và 22,5m² thuộc đường Quốc lộ 20), tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là đường đi chung của hộ bà Mai Thị T, bà Đinh Thị V.

2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đinh Thị V có nghĩa vụ trả lại cho bà Mai Thị Toàn P đất có diện tích: phần C diện tích 214m² và phần D diện tích 118,6m² thuộc một phần thửa 58 đứng tên bà Đinh Thị V.

2.4. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU375139 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/8/2014 cho ông Đặng Văn H4, bà Vũ Thị M, đăng ký biến động tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên sang tên cho bà Đinh Thị V ngày 18/4/2017 có diện tích 2.784,9m² thuộc thửa 58.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị V về việc yêu cầu bà Mai Thị T trả lại diện tích đất 50m² (đo đạc thực tế là 47,8m²), thuộc thửa 06, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 13/10/2023 và Bản xác định diện tích mảnh đo ngày 23/5/2025 kèm theo).

4. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đăng ký, kê khai với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân huyện Đ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ công vụ xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quy định của pháp luật phù hợp với phần nhận định của bản án liên quan đến yêu cầu của đương sự.

5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá buộc bà Mai Thị T phải chịu có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Đinh Thị V số tiền: 55.378.500đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn năm trăm đồng).

6. Về án phí sơ thẩm:

- Hoàn trả cho bà Vũ Thị M số tiền 2.500.000đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0005124 ngày 11/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

- Buộc bà Đinh Thị V phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền 1.250.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0006768 ngày 26/5/2021 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng, bà V được nhận lại số tiền 950.000đ án phí còn thừa.

- Buộc bà Mai Thị T phải chịu 600.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

- Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

3/. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Vũ Thị M không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm, số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của bà Vũ Thị M đã nộp (do bà Đinh Thị V nộp thay) 300.000đ được hoàn trả lại cho bà Vũ Thị M theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000 8743 ngày 24/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Bà Đinh Thị V, bà Mai Thị T mỗi người phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Đinh Thị V và bà Mai Thị T (do ông Trương Phúc  nộp thay bà T) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008742, 0008741 cùng ngày 24/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng là đủ.

4/. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA, VTLT (25b-TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 689/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 689/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị M kiện Mai Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger