|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 689/2024/HC-PT Ngày: 08 - 7 - 2024 V/v Khiếu kiện huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Tô Ngọc |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 719/2023/TLPT-HC ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2023/HC-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 958/2024/QĐPT-HC ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Bá T; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Thiên H1; địa chỉ: đường N, tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
-
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Văn P; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ - có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T1 – Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường – có mặt
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Công ty TNHH MTV L; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu D; chức vụ: Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH L – có mặt
-
Ủy ban nhân dân xã Q; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình T2; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q – có mặt
-
Công ty TNHH T4; địa chỉ: Quốc lộ B, thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim T3; chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH T4 - Vắng mặt.
-
Công ty TNHH MTV L; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Nguyễn Bá T; Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 30-5-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Bá T trình bày: Quyết định số: 1092/QĐ-XPHC ngày 18-5-2022 về việc xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số: 1295/QĐ-CCXP ngày 16-6-2022 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đối với ông Nguyễn Bá T là không đúng pháp luật, bởi lẽ: Thửa đất ông T đang sử dụng và bị xử phạt vi phạm hành chính diện tích 9493,1m², thuộc khoảnh 8, tiểu khu A, xã Q, huyện Đ có nguồn gốc do ông T ký kết Hợp đồng trồng cây nông lâm nghiệp với Công ty TNHH T4 (Công ty T4) ngày 24-10-2017, không phải do lấn chiếm đất rừng. Ngày 21-12-2018 UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 2126/QĐ-UBND về việc thu hồi 162,88ha đất, rừng của Công ty T4 giao Công ty TNHH MTV L (Công ty L) quản lý, bảo vệ nhưng chưa xử lý hậu quả của hợp đồng trồng cây ngày 24-10-2017 nêu trên nên ông T không bàn giao đất cho Công ty L. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số: 1092/QĐ-XPHC ngày 18-5-2022 về việc xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số: 1295/QĐ-CCXP ngày 16-6-2022 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đối với ông Nguyễn Bá T.
- Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đắk G'long trình bày: Ngày 21-12-2018 UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 2126/QĐ-UBND về việc thu hồi 162,88ha đất, rừng của Công ty T4 giao Công ty L quản lý, bảo vệ. Ngày 30-10-2021 UBND xã Q lập biên bản làm việc xác minh việc sử dụng đất và yêu cầu ông T trả lại diện tích đất lấn chiếm 9493,1m², thuộc khoảnh 8, tiểu khu A, xã Q, huyện Đ nhưng ông T không chấp hành. Ngày 10-5-2022 UBND xã Q lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T. Ngày 18-5-2022 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1092/QĐ-XPHC về việc xử phạt hành chính đối với ông T là đúng quy định pháp luật. Sau khi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ông T không chấp hành nên ngày 16-6-2022 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1295/QĐ-CCXPHC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông T là đúng quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bác yêu cầu khởi kiện của ông T.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Đại diện theo pháp luật của UBND xã Q: Ông Lê Đình T2 trình bày: UBND xã Q lập biên bản vi phạm hành chính ngày 10-5-2022 đối với ông T là đúng thẩm quyền, đúng đối tượng vi phạm và đúng vị trí đất.
- Đại diện theo ủy quyền của Công ty L: Ông Vũ Đức H2 trình bày: Diện tích đất ông T bị xử phạt vi phạm hành chính thuộc quyền quản lý, bảo vệ của Công ty L. Ranh giới, tọa độ, vị trí đất xử phạt theo Biên bản vi phạm hành chính ngày 10-5-2022 là đúng với thực tế.
- Đại diện hợp pháp của Công ty T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2023/HC-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng điểm a và b khoản 1 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 34 Điều 1 của Luật số: 67/2020/QH14 ngày 13-11-2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 2 Điều 3; khoản 3 Điều 5; điểm đ khoản 3 Điều 14; điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định số: 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ; khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 04/2022/NĐ-CP ngày 06-01-2022 sửa đổi Nghị định số: 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T: Hủy một phần Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 1092/QĐ-XPHC ngày 18-5-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ nội dung buộc ông T nộp số lợi bất hợp pháp 5.655.000đ (Năm triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T đối với yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 1092/QĐ-XPHC ngày 18-5-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ nội dung xử phạt số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc di dời tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại diện tích 9.493,1m² cho Công ty L và Quyết định số: 1295/QĐ-CCXPHC ngày 16-6-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông T.
- Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 02/2022/QĐ-BPKCTT/HC ngày 27-6-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông nội dung: Tạm đình chỉ việc thi hành Quyết định số: 1092/QĐ-XPHC ngày 18-5-2022 về xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số: 1295/QĐ-CCXP ngày 16-6-2022 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đối với ông Nguyễn Bá T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05/6/2023, người khởi kiện là ông Nguyễn Bá T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 06/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Nguyễn Bá T trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của ông T, hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1092/QĐ-XPHC ngày 18/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ nội dung xử phạt số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc di dời tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại diện tích 9.493,1m² cho Công ty L và Quyết định số 1295/QĐ-CCXPHC ngày 16/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông T, với các lý do: Căn cứ vào Hợp đồng trồng cây nông - lâm nghiệp giữa ông T và Công ty T4 thể hiện diện tích rõ ràng. Công ty T4 được Ủy ban nhân dân xã cho liên kết với người dân, điều này thực hiện đúng chủ trương của tỉnh. Do đó ông T đã trồng trên toàn bộ đất thực hiện theo chủ trương nên ông T không lấn chiếm đất nông nghiệp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính về phiên tòa phúc thẩm. Những người người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bản án sơ thẩm chưa xem xét phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Nguyễn Bá T ký kết với công ty T4 là đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của người khởi kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông. Sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên, xét kháng cáo của ông Nguyễn Bá T, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện, người bị kiện có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan công ty TNHH T4 vắng mặt không lý do, đã được tòa triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
-
[1.2] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết
Ông Nguyễn Bá T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1092/QĐ-XPHC ngày 18/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ và Quyết định về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1295/QĐ-CCXPHC ngày 16/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, là các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
-
[2.1] Xét thời hạn, thời hiệu, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành
Ngày 10/5/2021, Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ lập biên bản vi phạm hành chính số 71/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Bá T về hành vi chiếm đất.
Ngày 18/5/2022, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 1092/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với ông T là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, đúng thời hạn, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều 6, khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 3 Điều 5, điểm đ khoản 3 Điều 14, điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ.
-
[2.2] Xét nội dung
Ngày 21/01/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 139/QĐ-UBND về việc giao 162,88ha đất rừng (trong đó có diện tích 9.493,1m² đất mà ông Nguyễn Bá T đang khiếu kiện thuộc khoảnh 8, tiểu khu A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) cho Công ty TNHH T4 (gọi tắt là Công ty T4) để sử dụng vào mục đích quản lý bảo vệ rừng và sản xuất kinh doanh rừng (trồng bơ dưới tán rừng).
Ngày 24/10/2017, ông Nguyễn Bá T ký kết hợp đồng trồng cây nông lâm nghiệp với Công ty T4.
Ngày 21/12/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2126/QĐ-UBND về việc thu hồi 162,88ha đất, rừng của Công ty T4 giao Công ty L quản lý, bảo vệ, trong đó có diện tích đất 9.493,1m², thuộc khoảnh 8, tiểu khu A nêu trên, lý do thu hồi: đã có Kết luận thanh tra số 947/KL-SNN ngày 11/5/2018 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Đắk Nông xác định Công ty T4 vi phạm pháp luật về đất đai, về quản lý bảo vệ rừng (cụ thể, vi phạm quy định tại điểm e, h khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai năm 2013, Điều 26 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Điều 10 Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy định về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của chủ rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông).
Ngày 30/10/2021, UBND xã Q lập biên bản làm việc xác minh việc sử dụng đất và yêu cầu ông T trả lại diện tích đất thuộc quyền quản lý của Công ty L, diện tích 9.493,1m², thuộc khoảnh 8, tiểu khu A, xã Q, huyện Đ nhưng ông T không chấp hành, do đó hành vi của ông T thuộc trường hợp chiếm đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ, quy định: “2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép”.
Người khởi kiện ông Nguyễn Bá T kháng cáo và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông kháng nghị cho rằng việc ông T canh tác, trồng cây công nghiệp trên đất theo hợp đồng với Công ty T4 là đúng quy định pháp luật. Quá trình sử dụng diện tích đất này hợp pháp và chưa bị cơ quan nhà nước nào lập biên bản, thu hồi, xử lý đối với diện tích đất này. Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cho rằng ông T có hành vi chiếm đất của Công ty L khi công ty chưa nhận bàn giao đất và chưa được giải quyết hậu quả của hợp đồng trồng cây nông lâm nghiệp ngày 24/10/2017 với Công ty T4 là hoàn toàn không có căn cứ.
Tuy nhiên, Hợp đồng trồng cây giữa Công ty T4 với ông T là quan hệ pháp luật về dân sự, việc giải quyết hậu quả của hợp đồng thuộc trách nhiệm của Công ty T4, trường hợp hai bên có tranh chấp thì ông T có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Do Công ty T4 có vi phạm về đất đai nên đã bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quyết định thu hồi đất, rừng của Công ty T4 giao lại cho Công ty L quản lý, bảo vệ trong đó có phần đất ông T đang canh tác. Lẽ ra ông T phải chấp hành quyết định về quản lý đất đai của Nhà nước và tiến hành các thủ tục ký hợp đồng trồng rừng với Công ty L nhưng ông T không thực hiện.
Do đó, ngày 10/5/2021, Ủy ban nhân dân xã Q lập biên bản vi phạm hành chính số 71/BB-VPHC đối với ông T và ngày 18/5/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 1092/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với ông T về hành vi chiếm đất là đúng quy định pháp luật.
Sau khi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ông T không chấp hành nên ngày 16/6/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 1295/QĐ-CCXPHC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông T là đúng quy định pháp luật.
- [2.3] Đối với phần nội dung của Quyết định xử phạt hành chính số 1092/QĐ-XPHC đối với ông T về biện pháp khắc phục hậu quả nộp số lợi bất hợp pháp 5.655.000 đồng, ông T không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Bá T; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện ông Nguyễn Bá T phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Bá T; bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T, hủy một phần Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1092/QĐ-XPHC ngày 18/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ nội dung buộc ông Nguyễn Bá T nộp số tiền thu lợi bất hợp pháp 5.655.000 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T đối với yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1092/QĐ-XPHC ngày 18/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ nội dung xử phạt số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc di dời tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại diện tích 9.493,1m² cho Công ty L và Quyết định số 1295/QĐ-CCXPHC ngày 16/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Bá T.
- Án phí hành chính phúc thẩm: ông Nguyễn Bá T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000315 ngày 07/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 689/2024/HC-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực đất đai
- Số bản án: 689/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Bá T kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đắk G’long về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực đất đai”. Tuyên xử Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Bá T; bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm
