Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 688/2025/DS-PT

Ngày: 18 - 12 - 2025

V/v: “Yêu cầu chấm dứt hành vi trái

pháp luật đối với việc thực hiện

quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp

pháp; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa;

Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh;

Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng R - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 154/2025/TLPT- DS ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm 34/2020/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2020, của Toà án nhân dân tỉnh An Giang, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2194/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh L, sinh năm 1943 (vắng mặt);
  2. Nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn gồm:

    • - Bà Lâm Thị Á, sinh năm 1953 (có mặt);
    • Nơi cư trú: số A, tổ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

    • - Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1989 (có mặt);
    • Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang).

  3. Bị đơn:
    1. Ông Lê Văn B, sinh năm 1958 (có mặt);
    2. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1970 (có mặt);

    Cùng địa chỉ: Số B, tổ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lâm Thị Á, sinh năm 1953 (có mặt);
    2. Địa chỉ: Số A, tổ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

    3. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1957 (có mặt);
    4. Chị Lê Thị L1, sinh năm 1982 (có mặt);
    5. Anh Lê Văn K, sinh năm 1988 (có mặt);
    6. Chị Lê Thị P, sinh năm 1990 (có mặt);
    7. Anh Lê Văn Ngọc A, sinh năm 1992 (có mặt);
    8. Anh Lê Văn Ngọc E, sinh năm 1994 (có mặt);
    9. Cháu Lê Thị T, sinh năm 2006 (có mặt);
    10. Cháu Trần Văn K1, sinh năm 2003 (có mặt);
    11. Cháu Trần Văn K2, sinh năm 2006 (có mặt);
    12. Cháu Đinh Phú H, sinh năm 2007 (có mặt);
    13. Cháu Đinh Thị T1, sinh năm 2012 (có mặt);
    14. Ông Lê Long H1, sinh năm 1971 (có mặt);
    15. Chị Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1996 (có mặt);
    16. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 2000 (có mặt);
    17. Cùng cư trú tại: Số B, Tổ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

    18. Ông Lê Văn C, sinh năm 1968 (có mặt);
    19. Cư trú tại: Ấp H, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang).

    20. Bà Lê Thị M, sinh năm 1964 (có mặt);
    21. Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).

    22. Ông Lê Văn C1, sinh năm 1963 (có mặt);
    23. Cư trú tại: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã H, tỉnh An Giang).

  5. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang;
  6. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện T: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

  7. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Lâm Thị Á trình bày:

Từ trước năm 1940, cụ Lâm Văn T2(ông bà nội của bà Lâm Thị Á) đã khai phá, sử dụng phần đất diện tích ngang 34m x dài 50m (dài từ bờ sông ra phía sau hậu giáp với đất của ông Mai Tấn M1), bao gồm cả phần đất hai bên đang tranh chấp. Khoảng năm 1940 - 1945, vợ chồng cụ T2 chết, bác của bà Á là ông Lâm Thái N3 đến ở trên phần đất của cụ T2. Khoảng năm 1962, thì bà Mai Thị T3 (mẹ ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1) đến hỏi ông N3 cho ở nhờ để cất một căn nhà ngang khoảng 04m, dài từ mé sông đến phía sau. Năm 1986 ông N3 chết, phần đất của ông N3 để lại cho gia đình bà Á quản lý và sử dụng. Do lúc này có nhà của bà T3 nên gia đình bà Á chỉ sử dụng phần đất ngang khoảng 12m. Trên đất lúc này có 05 ngôi mộ gồm: 02 mộ đất có xây bờ nền (không xác định danh tánh nhưng đều là bà con ruột của bà Á) và 03 mộ của cụ Lâm Văn T2, cụ Lâm Thị S (bà nội bà Á) và ông Lâm Văn K3 (bác tư của bà Á).

Đến ngày 03 tháng 5 năm 1990 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 21.011m² gồm: 1.458m² thổ cư và phần còn lại là đất lúa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00328mH cấp ngày 03 tháng 5 năm 1990 mang tên Đỗ Thanh L.

Trong quá trình sử dụng, bà T3 đã chia đất cho các con và phần của ông B, bà N1 đã bán cho người khác. Về phần đất đang tranh chấp, từ trước đến giờ ông B và bà N1 không sử dụng. Đến năm 2006, ông B tự ý chặt phá cây và cất nhà phía sau phần đất khu vực xây mộ của ông bà cụ Á, lúc này bà Á có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã B. Sau đó Ủy ban nhân dân huyện T ra 03 Quyết định về việc giải quyết tranh chấp của hộ bà Á với nội dung buộc gia đình ông B phải tháo dỡ, di dời nhà, trả lại đất cho gia đình bà Á. Do đó chính quyền địa phương đã thi hành và gia đình ông B đã tháo dỡ nhà chỉ còn nền gạch.

Đến năm 2014, bà Lê Thị N1 (em ông B) lại tiếp tục tự ý xây dựng nền nhà trên phần đất của ông L, bà Á. Ông L và bà Á có trình báo sự việc cho Ủy ban nhân dân xã B nên bà N1 không được cất nhà, hiện chỉ còn nền nhà.

Năm 2014, ông B và bà N1 lại tiếp tục tự ý xây dựng một cái am diện tích khoảng 3m x 4m cấu trúc xi măng cốt thép, lợp thiếc. Gia đình ông L và bà Á có trình báo sự việc cho chính quyền địa phương nhưng cái am vẫn được xây dựng hoàn thành. Trong khi đó, trên phần đất tranh chấp này có mộ của gia đình ông bà bà ánh, mỗi lần viếng thăm đều bị ngăn cản.

Nay ông L yêu cầu ông B, bà N1 tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất khoảng 375,70m² đã lấn chiếm.

Bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 thống nhất trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ tên Mai Thị T3 nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị N4 và ông Lâm Thái N3 (bác của bà Á) vào năm 1955, diện tích 36m x 50m. Việc mua bán có giấy tờ nhưng đã bị thất lạc. Sau khi nhận chuyển nhượng thì mẹ của ông bà đã cất nhà ở ổn định từ năm 1972 rồi phân chia cho các con là Lê Văn H2, Lê Văn B,Lê Thị N1,Lê Văn C1,Lê Thị M,Lê Văn C mỗi người diện tích 6m x 50m. Ông B và bà N1 đều có cất nhà trên phần đất được chia.

Sau này do khó khăn nên năm 2003, ông B và bà N1 đã chuyển nhượng phần đất cho người khác. Còn phần đất đang tranh chấp là phần đất cha mẹ chia cho ông Lê Văn C, ông Lê Văn C1 và bà Lê Thị M nhưng họ không có nhu cầu sử dụng và cho lại ông B, bà N1.

Đến năm 2006, ông B xây nền cất nhà thì bị ông L và bà Á ngăn cản và phát sinh tranh chấp cho đến nay. Ông B, bà N1 không biết gì về việc ông L và bà Á được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên cả phần đất có nền nhà của ông bà. Theo ông bà thì phần đất của ông L và bà Á thuộc thửa số 23 còn phần đất của ông bà là thửa số 22. Ông B và bà N1 không có ký tứ cận giáp ranh cho ông L được cấp giấy. Việc trên đất có mồ mã là do họ hàng bà Á xin chôn nhờ, bao gồm mồ mả của ông cố, ông nội và cha bà Á. Cái am trên đất là do bà Mai Thị T3 cất bằng cây từ trước năm 1975. Đến năm 2014 ông B và bà N1 xây lại bằng gạch bê tông để thờ cúng. Trên đất tranh chấp đều có mấy cái mộ đất đã bốc cốt đi đều là do cha mẹ ông B và anh em ông B cho chôn nhờ.

Vì vụ kiện này mà ông, bà không có nhà để ở, phải đi ở trọ và ở trên ghe từ 10 năm nay, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn. Năm 2010, khi giải quyết tranh chấp giữa hai bên, Ủy ban nhân dân huyện có ưu tiên cho ông B mua một nền nhà giá linh hoạt nhưng vì nghèo không có tiền nên ông không mua.

Nay, ông B và bà N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông L đối với phần đất đang tranh chấp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị M trình bày: Bà là em ruột của ông Lê Văn B và là chị ruột của bà Lê Thị N1. Khi được cha mẹ chia đất, bà không có nhu cầu sử dụng nên để trống. Sau khi có chồng, bà về bên nhà chồng sinh sống và cho lại phần đất trên cho ông B và bà N1 (thời gian không nhớ, không có làm giấy tờ cho). Phần đất này là do cha mẹ cho riêng bà nên bà cho lại ông B và bà N1; Nay bà không tranh chấp.
  2. Ông Lê Văn C trình bày: Ông là em ruột của ông B và là anh ruột của bà N1. Khi còn sống, cha mẹ có tạo lập được một phần đất chiều ngang khoảng 36m, chiều dài khảng 50m và có nói chia cho các con mỗi người diện tích ngang 6m, dài 50m nhưng không nói cụ thể mỗi người ở vị trí nào và lúc cho chỉ nói miệng không làm giấy tờ. Đến khi cha mẹ mất, các anh em tự chia như lời cha mẹ nói. Sau khi được chia đất, ông C không có nhu cầu sử dụng và để nền trống, sau đó cho lại em là bà N1, khi cho chỉ nói miệng không làm giấy tờ. Phần đất này là do cha mẹ cho riêng ông C và ông cho lại em là bà Lê Thị N1 và ông không có tranh chấp. Việc trên đất có mồ mả ông bà bên phía ông L là do bên gia đình ông L hỏi gia đình ông để chôn cất chứ không phải là đất của ông L.
  3. Ông Lê Văn C1 trình bày: Ông là em ruột của ông Lê Văn B và là anh ruột của bà Lê Thị N1. Thống nhất với lời trình bày ông C.
  4. Ủy ban nhân dân huyện T, đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Chí Q trình bày: Ông Đỗ Thanh L và bà Lâm Thị Á được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1990 theo chủ trương tại quyết định số 27/UB.QĐ ngày 03 tháng 5 năm 1990 là đúng trình tự, thủ tục quy định theo điều 18 của Luật đất đai năm 1987 và Điều 31 Nghị định số 30/HĐBT về thi hành Luật đất đai.
  5. Không thống nhất việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đỗ Thanh L và bà Lâm Thị Ánh .

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2020, Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

Căn cứ: Khoản 4 Điều 34, Khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166 Luật đất đai 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thanh L: Buộc ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 phải có nghĩa vụ di dời 02 nền nhà (mỗi người 01 nền), 01 cái am (miễu) và các tài sản khác (nếu có) ra khỏi khu đất theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/3/2019 của Văn phòng Đ1 Chi nhánh T4.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số 00328.QSDĐ/mH cấp ngày 03 tháng 5 năm 1990 do ông Đỗ Thanh L đứng tên.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 24/8/2020, đồng bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết: hủy bản án sơ thẩm; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00328.QSĐ/mH cấp ngày 03/5/1990 do ông Đỗ Thanh L đứng tên và đình chỉ giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 109/2022/DS-PT ngày 28/02/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) quyết định:

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 10/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và đình chỉ giải quyết vụ án giữa nguyên đơn là ông Đỗ Thanh L với bị đơn là ông Lê Văn B, bà Lê Thị N1. Trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn ông Đỗ Thanh L.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) có Văn bản số 1651/KNKN-TANDCC về việc kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 67/2024/DS-GĐT ngày 02/12/2024, Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 89/2024/KN-DS ngày 24/9/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 109/2022/DS-PT ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Đỗ Thanh L với bị đơn là ông Lê Văn B, bà Lê Thị N1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
  3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 trình bày: Nguồn gốc đất là của mẹ ông B và bà N1, nguyên đơn lấn chiếm và làm giấy tờ giả. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông B và bà N1.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày quan điểm: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý, cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới để có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1]. Đơn kháng cáo của ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
    2. [1.2]. Về những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt ông Đỗ Thanh L, tuy nhiên ông L đã có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang). Xét, việc vắng mặt của các đương sự này không ảnh hưởng đến việc xét kháng cáo của người kháng cáo. Do đó, căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
  2. [2]. Về nội dung:
    1. [2.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
    2. Tại Đơn khởi kiện ngày 15/9/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông L cho rằng, ông B và bà N1 tự ý xây dựng các công trình trên diện tích 408,8m² (là một phần của thửa đất số 1737) là xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông L; đề nghị Tòa án buộc ông B, bà N1 phải di dời tài sản, vật kiến trúc trên diện tích đất nêu trên và không được cản trở việc sử dụng đất của gia đình ông L. Do đó, cần phải xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp” được quy định tại Điều 259 Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015) và khoản 14 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, là không chính xác.

      Ngoài ra, bị đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn.

      Do đó, cần phải sửa lại quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

    3. [2.2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1:
    4. Hồ sơ thể hiện phần diện tích đất 1.458m² thuộc thửa đất số 1737, tờ bản đồ số 4 tại xã T, huyện T, tỉnh An Giang có diện tích ngang mặt tiền 14,80m; mặt hậu 14.10m, dài 26m.

      Tại Quyết định số 3055/QĐ-UBND ngày 27/10/2008 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc giải quyết tranh chấp của hộ bà Lâm Thị Á có nội dung: “Công nhận phần đất có diện tích ngang mặt tiền 14,80m, ngang mặt hậu 14,10m, dài 26m cho bà Lâm Thị Á quản lý, sử dụng. Ông Lê Văn B phải tự tháo dỡ, di dời nhà và trả lại đất cho bà Lâm Thị Á”. Ngày 26/6/2020, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Công văn số 1731/UBND-NC phúc đáp Công văn 726/TA-DS ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Xác định: Quyết định số 3055/QĐ-UBND ngày 27/10/2008 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc giải quyết tranh chấp nêu trên của hộ bà Lâm Thị Á với ông Lê Văn B vẫn còn hiệu lực pháp luật.

      Ông B, bà N1 trình bày nguồn gốc đất là của bà Mai Thị T3 (mẹ của ông bà), bà T3 chia cho ông C1, bà M, ông C (trước năm 1975), vì khi được chia ông bà còn rất nhỏ và 03 người không sử dụng đất từ khi được chia đến khi xảy ra tranh chấp năm 2006 nhưng không có tài liệu chứng minh.

      Xét tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng, phần diện tích đất nêu trên đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00328.QSDĐ/mH cho ông Đỗ Thanh L ngày 03/5/1990 và gia đình ông L có sử dụng đất để xây mộ. Như vậy, có cơ sở xác định, phần diện tích đất tranh chấp là của ông L.

      Năm 2014, ông B và bà N1 tiếp tục xây dựng 01 miếu có kết cấu nền gạch, mái tôn và bà N1 xây dựng 01 nền nhà bằng gạch tại thửa đất nêu trên. Do đó, ông L yêu cầu ông B, bà N1 tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm, là có căn cứ.

    5. [2.3]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thanh L, là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1 kháng cáo, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ sửa bản án sơ thẩm theo yêu cầu của ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
  3. [3]. Quan điểm của nguyên đơn, là có căn cứ.
  4. [4]. Đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, được chấp nhận.
  5. [5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị N1 phải chịu án phí theo quy định.
  6. Ông Lê Văn B là người cao tuổi, có xin miễn nộp tiền án phí phúc thẩm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì ông B thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông B.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; Điều 270; Điều 293; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 10-8-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giữa nguyên đơn ông Đỗ Thanh L với bị đơn ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    1. Buộc bà Lê Thị N1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà N1 đã nộp đủ 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019 0005305 ngày 24/8/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
    2. Ông Lê Văn B được miễn án phí dân sự phúc thẩm; Hoàn trả cho ông Lê Văn B 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019 0005304 ngày 24/8/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện CT&KSXXPT tại TPHCM;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP (TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 688/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 688/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger