TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 608/2024/DS-PT Ngày 05-12-2024 V/v tranh chấp đòi tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tài. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh. |
| Bà Đinh Thị Mộng Tuyết. |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 395/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc: tranh chấp đòi tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty TNHH S; trụ sở: số B đường B, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ: số D Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 01/10/2023), có mặt.
- - Bị đơn: Ông Hồ Quốc T, sinh năm 1967; địa chỉ: số B đường số D, khu dân cư C, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- - Người kháng cáo: bị đơn ông Hồ Quốc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Công ty TNHH S đồ gỗ gia dụng Đ trình bày:
Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S) và ông Hồ Quốc T có thỏa thuận hợp tác kinh doanh, cụ thể: năm 2016, Công ty S đã cho cho ông T mượn trước một số tiền để mua gỗ cao su, số gỗ mua được ông T sẽ bán lại cho công ty, giá trị phần gỗ ông T bán sẽ trừ vào khoản tiền đã mượn của công ty trước đó. Đến ngày 31/7/2018, Công ty S tiến hành kết toán, sau khi trừ giá trị phần gỗ đã giao thì ông T còn nợ công ty số tiền là 3.957.500.000 đồng. Đến ngày 11/8/2018, ông T đã liên hệ đề nghị Công ty S tiếp tục cho mượn thêm số tiền 500.000.000 đồng và ký giấy mượn nợ, xác nhận tổng số tiền đã mượn Công ty là 4.457.500.000 đồng. Số tiền này sẽ được trừ dần vào công nợ hàng tháng mà ông T giao gỗ cho Công ty S. Tuy nhiên, sau khi nhận thêm số tiền 500.000.000 đồng đến nay ông T không giao bất cứ số gỗ nào cũng như không trả số tiền còn nợ cho Công ty S như thỏa thuận dẫn đến Công ty S gặp nhiều khó khăn. Công ty S đã nhiều lần trực tiếp liên hệ, tuy nhiên ông T không hợp tác và không trả nợ cho Công ty S.
Ngày 05/7/2023, Công ty S gửi đơn tố giác ông Hồ Quốc T đến Công an tỉnh B đề nghị tiến hành điều tra xác minh hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số tiền 4.457.500.000 đồng của Công ty S. Sau khi Công an tỉnh B mời các bên lên làm việc, ông Hồ Quốc T thừa nhận số tiền đã nợ Công ty S, tuy nhiên ông T chưa có tiền trả nợ. Ngày 29/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có văn bản trả lời cho Công ty S xác định vụ việc là tranh chấp dân sự đề nghị Công ty S gửi đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết.
Ngày 12/9/2023, Công ty S tiếp tục có văn bản gửi cho ông Hồ Quốc T để yêu cầu ông T thanh toán số nợ 4.457.500.000 đồng nhưng ông T vẫn không trả nợ cho Công ty S.
Theo đơn khởi kiện, Công ty S yêu cầu ông Hồ Quốc T trả số tiền tổng cộng là 4.680.375.000 đồng, bao gồm: tiền vay gốc là 4.457.500.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả tính từ ngày 01/10/2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm tạm tính là 06 tháng: 4.457.500.000 đồng x 10%/năm x 06 tháng = 222.875.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty S yêu cầu Tòa án buộc ông Hồ Quốc T trả lại cho Công ty S tổng số tiền nợ gốc là 4.457.500.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), không yêu cầu ông T trả tiền lãi.
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Giấy mượn nợ ngày 11/8/2018, văn bản yêu cầu trả nợ.
- Bị đơn ông Hồ Quốc T trình bày: Ông T có hợp tác làm ăn với Công ty S vào khoảng năm 2017, việc hợp tác làm ăn chỉ thỏa thuận bằng miệng không có lập văn bản hay hợp đồng thỏa thuận, Công ty S bỏ tiền đầu tư máy móc, nhà xưởng, thiết bị, ông T mua gỗ về và thuê nhân công cưa xẻ gỗ theo quy chuẩn của Công ty S yêu cầu. Đến năm 2018, do gặp khó khăn nên công việc làm ăn giữa ông T và Công ty S không được thuận lợi, Tổng giám đốc của Công ty S có nhờ ông T hỗ trợ công ty trong giai đoạn khó khăn. Vào ngày 11/8/2018, phía Công ty S có nhờ ông T ký giấy mượn nợ nội dung ông còn nợ Công ty S số tiền 4.457.500.000 đồng để Công ty kết toán công nợ, Công ty S có thỏa thuận miệng rằng ông T ký giấy số tiền nợ 4.457.500.000 đồng nhưng ông T chỉ cần trả số tiền 2.500.000.000 đồng cho Công ty S. Tuy nhiên sau đó công việc kinh doanh của ông T gặp nhiều khó khăn nên chưa giao gỗ cho Công ty S và chưa trả được số tiền còn nợ Công ty S. Sau đó Công ty S đã thu hồi lại máy móc, nhà xưởng, thiết bị sản xuất gỗ, ông T cho rằng Công ty S đã không thực hiện như thỏa thuận, gây khó khăn khiến ông T không thể tiếp tục sản xuất nên không thể trả nợ cho Công ty S. Quá trình hòa giải, ông T có đề nghị phương án giải quyết vụ án sẽ trả cho Công ty S số tiền 500.000.000 đồng nhưng Công ty S không chấp nhận, tuy nhiên tại phiên toà ông T trình bày hiện nay ông gặp khó khăn, lớn tuổi và đang bệnh nặng nên ông không đồng ý trả bất cứ số tiền nào cho Công ty S. Ông T không cung cấp chứng cứ, tài liệu nào và không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 26/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S đồ gỗ gia dụng Đ với bị đơn ông Hồ Quốc T về việc tranh chấp hợp đồng đòi tài sản.
Buộc ông Hồ Quốc T có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH S và Gia công đồ gỗ gia dụng Đài Khánh số tiền 4.457.500.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 8 năm 2024, bị đơn ông Hồ Quốc T nộp đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: căn cứ tài liệu thu thập tại hồ sơ, có căn cứ xác định giữa ông T và Công ty S có giao dịch dân sự. Ngày 11/8/2018, giữa Công ty S và ông T lập “Giấy mượn nợ”, thể hiện nội dung ông T mượn trước số tiền của Công ty S số tiền 3.957.500.000 đồng để mua gỗ cao su và mượn thêm 500.000.000 đồng, tổng cộng là 4.457.500.000 đồng. Ông T hứa mua gỗ và giao cho Công ty S nhưng không thực hiện. Do đó, Công ty S khởi kiện và buộc ông T trả số tiền 4.457.500.000 đồng là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ông T cung cấp tài liệu, chứng cứ mới về việc giữa Công ty S và ông T có thỏa thuận lại số tiền nợ còn lại là 2.500.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, sửa án sơ thẩm buộc ông T trả tiền nợ cho Công ty Đ 2.500.000.000 đồng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn ông Trần Quốc T1 trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- [2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn: tại “Giấy mượn nợ” lập ngày 11/8/2018 (bút lục 05), thể hiện nội dung ông Hồ Quốc T mượn trước số tiền của Công ty S để mua gỗ cao su; từ tháng 7 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 ông T có giao gỗ cho Công ty S và số tiền được kết toán vào ngày 31/7/2018; sau khi kết toán ông T còn nợ Công ty S số tiền là 3.957.500.000 đồng, cùng ngày 11/8/2018, ông T mượn thêm của Công ty S số tiền 500.000.000 đồng, tổng số tiền ông T nợ Công ty S là 4.457.500.000 đồng, số tiền này sẽ trừ dần vào công nợ hàng tháng mà ông T giao gỗ cho Công ty; cuối “Giấy mượn nợ” lập ngày 11/8/2018 có chữ ký và chữ viết Hồ Quốc T.
- [3] Ông Hồ Quốc T thừa nhận có ký tên nhận nợ của Công ty S số tiền 4.457.500.000 đồng để Công ty S kết toán và Công ty S cho ông T chỉ trả số tiền 2.500.000.000 đồng nhưng tại cấp sơ thẩm ông T không cung cấp chứng cứ chứng minh về việc Công ty S cho trả số tiền 2.500.000.000 đồng.
- [4] Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, Công ty S từ chối đối chất, hòa giải do ông T không có thiện chí trả nợ và không hợp tác. Quá trình giải quyết vụ án, ông T đề nghị phương án trả nợ cho Công ty S số tiền 500.000.000 đồng nhưng Công ty S không chấp nhận. Tại phiên toà sơ thẩm ông T không đồng ý trả bất cứ số tiền nào cho Công ty S và không cung cấp tài liệu chứng cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Hồ Quốc T có trách nhiệm trả số tiền nợ 4.457.500.000 đồng cho Công ty S là đúng.
- [5] Tại cấp phúc thẩm, ông T cung cấp chứng cứ là “Biên bản xác nhận công nợ” lập ngày 26/11/2019, giữa Công ty S với ông T có nội dung ông T còn nợ của Công ty S số tiền 4.457.500.000 đồng; do ông T còn khó khăn về kinh tế nên Công ty S giảm bớt số tiền theo Giấy xác nhận ngày 11/8/2018 là 1.957.500.000 đồng nên ông T còn nợ lại 2.500.000.000 đồng, ông T xác nhận số nợ trên và cam kết trả số nợ 2.500.000.000 đồng trong thời gian 05 năm (54 tháng), thời gian trả nợ bắt đầu từ tháng 7/2020, số tiền hàng tháng phải trả là 46.297.000 đồng, nếu ông T không thanh toán tiền theo thỏa thuận thì phải trả lãi theo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm thanh toán. Cuối “Biên bản xác nhận công nợ” lập ngày 26/11/2019 có chữ ký và chữ viết họ tên “Bên nợ” Hồ Quốc T và “Bên Công ty” có chữ ký ghi họ tên HUNG CHIN HSIANG, đóng dấu tròn Công ty TNHH S gỗ Gia dụng Đ. Qua xem xét “Biên bản xác nhận công nợ” lập ngày 26/11/2019, người đại diện của Công ty S thừa nhận có giảm trừ tiền nợ cho ông K và tại phiên tòa phúc thẩm Công ty S chỉ yêu cầu ông T trả số tiền 2.500.000.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận.
- [6] Tài liệu “Biên bản xác nhận công nợ” lập ngày 26/11/2019 do ông T cung cấp tại cấp phúc thẩm và Công ty S thừa nhận đúng nội dung là căn cứ chứng minh có sự thỏa thuận lại tiền nợ, Công ty S giảm bớt tiền nợ cho ông T, nên ông T còn nợ lại số tiền là 2.500.000.000 đồng nhưng chưa trả cho Công ty S.
- [7] Tại “Biên bản xác nhận công nợ” lập ngày 26/11/2019, các bên có thỏa thuận tiền lãi, tuy nhiên quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn không yêu cầu ông T trả tiền lãi nên Tòa án cấp sơ thẩm không tính lãi là đúng. Tại cấp phúc thẩm Công ty S chấp nhận chỉ yêu cầu ông T trả số tiền còn nợ 2.500.000.000 đồng và yêu cầu ông T trả tiền lãi, tuy nhiên Công ty S không kháng cáo về phần lãi, do đó Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét.
- [8] Tại cấp phúc thẩm, ông T cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T. Cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm do có tình tiết mới.
- [9] Án phí sơ thẩm: trả lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty S; ông T phải chịu trên số tiền 2.500.000.000 đồng.
- [10] Án phí phúc thẩm: kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu.
- [11] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 48, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hồ Quốc T.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S đồ gỗ gia dụng Đ với bị đơn ông Hồ Quốc T về việc đòi tài sản số tiền còn nợ 2.500.000.000 đồng.
Buộc ông Hồ Quốc T có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH S và Gia công đồ gỗ gia dụng Đài Khánh số tiền 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Án phí sơ thẩm:
Trả lại cho Công ty TNHH S đồ gỗ gia dụng Đài Khánh số tiền 56.340.000 đồng (năm mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0001062 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Ông Hồ Quốc T phải chịu 82.000.000 đồng (tám mươi hai triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S đồ gỗ gia dụng Đ với bị đơn ông Hồ Quốc T về việc đòi tài sản số tiền còn nợ 2.500.000.000 đồng.
- Án phí phúc thẩm: trả lại cho ông Hồ Quốc T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai số 0002649 ngày 19/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tài |
Bản án số 608/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 608/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
