|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 688/2024/HSPT
Ngày: 16-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Các Thẩm phán: 1. Ông Phạm Năng Thành
2. Bà Đặng Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 561/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Huy O do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Huy O, sinh năm 1995.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 30/6/2015, Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q ra quyết định giáo dục tại xã trong thời hạn 06 tháng, lý do: Nghiện ma túy.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 391/2016/HSST ngày 18/10/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành án phạt tù xong ngày 14/5/2020, đã nộp án phí ngày 23/5/2017. (Đã được xóa án tích).
- Ngày 16/6/2020, Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q ra quyết định giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, lý do: Nghiện ma túy.
D chỉ bản số [...] lập ngày 13/01/2024 tại Công an huyện Q, thành phố Hà Nội.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Công ty TNHH T1.
Địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N1 - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức T - Bảo vệ; vắng mặt tại phiên tòa;
- Công ty Cổ phần Đ.
Địa chỉ: Số H, ngõ E, đường L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thu N2 - Giám đốc; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T1, địa chỉ trụ sở: thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội, do bà Nguyễn Thị N1 làm Giám đốc (gọi tắt là Công ty T1). Từ tháng 3 năm 2023, Công ty T1 thuê Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ: Số H, ngõ E, đường L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội, do bà Phạm Thu N2 làm Giám đốc (gọi tắt là Công ty Đ) thực hiện việc thi công các hạng mục lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy. Quá trình lắp đặt, Công ty Đ có để một số thiết bị, phụ kiện, máy móc vật tư tại Công ty T1. Sáng ngày 15/7/2023, Công ty Đ và Công ty T1 kiểm tra tại kho xưởng ở Công ty T1 thì phát hiện bị mất trộm tài sản. Ngày 17/7/2023 và ngày 20/7/2023, bà Phạm Thu N2 và ông Nguyễn Đức T (là bảo vệ Công ty T1, đại diện theo ủy quyền) đã đến Công an huyện Q trình báo sự việc. Quá trình điều tra đã làm rõ các đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp như sau:
Khoảng 16 giờ 00 ngày 14/7/2023, do thiếu tiền tiêu xài nên Nguyễn Huy O gọi điện qua mạng xã hội Zalo cho Đôn Văn P (do O và P dùng sim không chính chủ nên không nhớ số điện thoại cụ thể) rủ đi tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp thì P đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, O điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng bạc BKS: 29V7-556.47 (mượn của mẹ đẻ O là bà Nguyễn Thị N) đi từ nhà trọ của anh Nguyễn Duy L ở thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội đến nhà trọ của P tại thôn D, xã P, huyện Q thì thấy Dương Quốc V đang ngồi chơi ở đó nên O vào ngồi chơi khoảng 15 phút thì đi về. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, O tiếp tục đến nhà trọ của P thì thấy V vẫn đang ngồi chơi ở đây nên O đi vào rủ P trộm cắp tài sản thì P đồng ý và rủ V đi cùng. O đi vào gian nhà kho trong nhà trọ của P lấy 01 kéo cắt sắt mà P đã mua trước đó rồi cài ở bên sườn phải xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen không đeo Biển kiểm soát của P, V lấy 01 chiếc xe lôi có thùng bằng sắt của P đang để ở sân rồi kéo ra phía ngoài cổng. Sau đó P điều khiển xe máy Sirius nêu trên chở O ngồi phía sau, V ngồi sau cùng kéo theo chiếc xe lôi đi tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Trên đường đi O hỏi P: “Giờ đi trộm cắp ở đâu”, P trả lời: “Giờ biết đi ở đâu, thôi đi ra đường gom cao tốc đại lộ T có gì thì trộm” thì tất cả đồng ý. Khi đi đến trước cửa Công ty T1, P quan sát thấy cửa kho của Công ty K bên ngoài nên dừng xe lại để O và V xuống kiểm tra. Thấy không có ai trông coi, O quay lại lấy chiếc kéo cắt sắt mang theo. P cùng O tiến lại cửa kho rồi dùng chiếc kéo cắt đứt ổ khóa sau đó đi ra vị trí đỗ xe máy để cảnh giới, còn O và V mở cửa kho đi vào bên trong. Khi vào bên trong kho, cả hai phát hiện thấy 01 chiếc xe lôi, trên xe đang để 01 máy hàn, 01 máy khoan, 01 máy cắt và một số tài sản khác dùng để thi công công trình phòng cháy chữa cháy (cờ lê, máy bơm bù, đồng hồ...) nên đã kéo chiếc xe lôi này cùng các tài sản ở trên xe đi ra ngoài và đóng cửa kho lại. Sau đó P điều khiển xe máy chở O ngồi sau kéo theo chiếc xe lôi cùng các tài sản vừa trộm cắp được, V ngồi lên thùng xe lôi do O kéo và kéo theo chiếc xe lôi lấy từ nhà Phẳng trước đó rồi tất cả cùng nhau đi về phòng trọ của P để cất giấu. Khi đi đến đoạn đê thuộc thôn S, xã Y, do sợ bị người dân phát hiện nên V xuống xe đứng đợi cùng chiếc xe lôi mang đi, còn P tiếp tục điều khiển xe máy chở O kéo theo xe lôi cùng các tài sản vừa trộm cắp được về phòng trọ của P. Sau khi cất giấu xong số tài sản vừa trộm cắp được, P điều khiển xe máy chở O ngồi phía sau quay lại đón V kéo theo chiếc xe lôi lấy từ nhà Phẳng trước đó rồi cả ba tiếp tục đi đến Công ty T1. Khi đến nơi quan sát thấy cửa Công ty vẫn đang đóng khép, chưa bị ai phát hiện nên P và O kéo theo xe lôi mở cửa kho đi vào trong, còn V đứng ở bên ngoài cảnh giới. Khi vào bên trong kho, P, O nhìn thấy có một số thiết bị để lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy cùng các ống sắt, kèo sắt, máy bơm nước để ở nền nhà kho nên cả hai lấy các tài sản này để lên thùng xe lôi rồi kéo xe ra phía ngoài đường và đóng cửa kho lại như cũ. Sau đó V điểu khiển xe máy, O ngồi phía sau kéo theo chiếc xe lôi để các tài sản vừa trộm cắp được còn P ngồi lên thùng rồi cả ba cùng nhau đi về phòng trọ của P cất giấu. Sau đó O và V điều khiển xe máy của O, P đi về nhà, còn P ngủ tại phòng trọ của mình. Đến khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, do lo sợ bị phát hiện nên O, P và V mang những tài sản trộm cắp được tại Công ty T1 từ phòng trọ của P đi cất giấu tại khu vườn của gia đình anh Nguyễn Đình S (sinh năm 1989 ở thôn N, xã S, huyện Q, là bạn của P). Ngày 18/7/2023, O và V đến chỗ trọ của anh Nguyễn Duy L ở thôn P, xã C, huyện T chơi, khoảng 20 giờ cùng ngày, P chở anh Nguyễn Đình S đến, tại đây O, P, V nói cho anh L và anh S biết việc cả 03 đã cùng nhau trộm cắp tài sản và cất giấu tại vườn nhà anh S thì được anh S, anh L khuyên đến Cơ quan Công an đầu thú để hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Ngày 19/7/2023 anh Nguyễn Đình S đến Công an huyện Q trình báo sự việc, phối hợp với Cơ quan Công an đã thu giữ toàn bộ vật chứng của vụ án mà O, P và V đã trộm cắp tại Công ty T1 tại vườn của nhà anh S ở thôn N, xã S, huyện Q, gồm:
- Tài sản của Công ty Đ bị mất trộm:
- 01 Ống DN125 (dài 118 cm, đường kính lòng ống 14 cm) màu đỏ.
- 01 Ống DN32 (dài 117,5 cm, đường kính lòng ống 4 cm).
- 01 Ống DN50 (dài 73 cm, đường kính lòng ống 6 cm).
- 07 Trụ tiếp nước 03 cửa (dài 95 cm, chu vi 41 cm) màu đỏ đen.
- 01 Thân trụ chữa cháy DN100 (dài 46,5 cm, đường kính 11 cm).
- 01 Ống DN32 (dài 110,5 cm, đường kính lòng ống 4 cm).
- 01 Ống DN32 (dài 79,5 cm, đường kính lòng ống 4 cm).
- 01 Ống DN100 có hàn phụ kiện (dài 76 cm, đường kính lòng ống 11 cm).
- 01 Ống DN100 có hàn phụ kiện (dài 81 cm, đường kính lòng ống 11 cm).
- 01 T đều 125 (dài 24,8 cm, đường kính 14 cm).
- 01 Ống DN50 kèm phụ kiện (dài 303,5 cm, đường kính 6 cm).
- 01 Ống DN50 kèm phụ kiện (dài 268,5 cm, đường kính 6 cm).
- 01 Ống DN50 (dài 130,5 cm, đường kính 6 cm).
- 01 Cút hàn 125 (dài 37 cm, đường kính 14 cm).
- 01 Cút hàn 100 (dài 27 cm, đường kính 11,2 cm).
- 01 Van một chiều DN50 (dài 12 cm, đường kính 8 cm).
- 02 Van cổng DN50 (dài 17 cm, đường kính 5 cm).
- 02 Rọ hút DN100 (dài 16 cm, đường kính 10 cm).
- 02 Họng tiếp nước DN100 (dài 25 cm, đường kính 11 cm).
- 01 Đầu trụ 2 cửa DN65 (dài 28 cm, đường kính 10,5 cm).
- 01 Y lọc DN50 (dài 18,7 cm, đường kính 5,5 cm).
- 01 Bơm bù áp BALOTTI (dài 63,5 cm).
- 20 Ngàm ren trong D65 (đường kính 7 cm).
- 20 Nắp ngàm (đường kính 10 cm).
- 01 Van khóa DN32/ Van bi tay gạt DN32 (đường kính 4 cm).
- 07 Van khóa DN25/ van bi tay gạt DN 25 (đường kính 3 cm).
- 07 Van khóa DN15/ van bi tay gạt DN 15 (đường kính 2 cm).
- 06 Cờ lê vặn trụ chữa cháy (dài 33 cm, màu đen).
- 01 T 50x40 (đường kính 6 cm).
- 01 T 50/25 (đường kính 6 cm).
- 01 T 50/15 (đường kính 6 cm).
- 01 Đồng hồ áp PRO-INSTRUMENT.
- 01 Máy khoan BOSCH (dài 35 cm).
- 01 Máy hàn kim loại JASIC kích thước (40x23)cm.
- 01 Máy cắt Makita 9553NB (dài 25 cm).
- 01 Ống DN50 kèm phụ kiện (dài 118 cm, đường kính 6 cm).
- 01 Ống DN50 kèm phụ kiện (dài 68 cm).
- 01 Ống DN50 kèm phụ kiện (dài 14,5 cm, đường kính lòng ống 6 cm).
- 01 Ống DN100 kèm phụ kiện (dài 300 cm, đường kính 11 cm).
- 08 giá đỡ thép V5.
- Tài sản của Công ty T1 bị mất trộm:
- 01 Máy bơm phòng cháy cũ đã hỏng (dài 102 cm, cao 76 cm, rộng 26 cm).
- 01 Xe kéo 02 bánh (dài 225 cm, cao 67 cm, rộng 96 cm).
- 03 Kèo nhà bằng kim loại (dài 262 cm, rộng 83 cm).
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 06/9/2023 Đôn Văn P và Dương Quốc V đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Ngày 02/01/2024 Nguyễn Huy O đến Cơ quan điều tra đầu thú.
Thu giữ của P: 01 Xe lôi 02 bánh, bằng kim loại; 01 chiếc kéo cắt sắt tổng chiều dài (85x10)cm; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius (chưa đăng ký) màu đen; SK: RLCUE 3240HY099773; SM: E3X9E-281176.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q xác định: Các tài sản của Công ty Đ bị chiếm đoạt tại thời điểm ngày 15/7/2023 có tổng giá trị là 56.568.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q xác định: Các tài sản của Công ty T1 bị chiếm đoạt tại thời điểm ngày 15/7/2023 có tổng giá trị là 1.184.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 57.752.000 đồng.
Đối với giá trị tài sản của hai lần trộm cắp: Các đối tượng đều khai nhận do trời tối và các tài sản phần lớn là các thiết bị lắp đặt phòng cháy chữa cháy có hình dáng và kích cỡ gần giống nhau, sau khi mang về cất giấu tại nhà trọ của P cũng như khi di chuyển đến cất dấu tại vườn bưởi nhà anh S thì các đối tượng đã để lẫn lộn nên không xác định được số lượng riêng biệt tài sản của các lần trộm cắp nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tách riêng giá trị tài sản của hai lần trộm cắp.
Xử lý vật chứng:
Ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra Quyết định số 33, 34 trả lại toàn bộ các tài sản bị trộm cắp nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp Công ty T1 và Công ty Đ.
Đối với các vật chứng khác gồm: 01 xe lôi 02 bánh, bằng kim loại; 01 chiếc kéo cắt sắt tổng chiều dài (85x10)cm tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen (chưa đăng ký) quá trình điều tra xác định P mua của anh Dương Tiến C - sinh năm 1994, ĐKTT: Xóm C, thôn A, xã P, huyện Q, Hà Nội. Năm 2017, anh C mua chiếc xe tại Công ty TNHH T2 và đứng tên anh C trên giấy tờ mua bán, nhưng chưa đi đăng ký ngay. Đến khi đem xe đi đăng ký thì bị nộp tiền phạt do chậm đăng ký nên anh C không đăng ký nữa. Sau đó do không có tiền chi tiêu cá nhân nên anh C đã bán chiếc xe này cho P, khi bán xe cho P thì không có giấy tờ gì, anh C chỉ giao xe và đưa toàn bộ giấy tờ ban đầu cho P, cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định.
Đối với 02 chiếc điện thoại mà O và P liên hệ rủ nhau đi trộm cắp, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên O và P đã bán cho người đàn ông không quen biết thông qua mạng xã hội (không biết họ tên, địa chỉ của người này ở đâu) do đó Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về dân sự: Công ty Đ yêu cầu Nguyễn Huy O, Đôn Văn P, Dương Quốc V phải bồi thường số tiền 40.000.000 đồng liên quan đến thiệt hại do Công ty phải bồi thường hợp đồng thi công chậm muộn cho Công ty T1. Ngày 19/4/2024, các đối tượng Đôn Văn P, Dương Quốc V đã tự nguyện bồi thường cho Công ty Đ số tiền 20.000.000 đồng, đồng thời Công ty cổ phần Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 20.000.000 đồng còn lại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho P và V. Công ty T1 không yêu cầu các đối tượng bồi thường gì về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSQO ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Huy O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cáo trạng còn truy tố Đôn Văn P và Dương Quốc V theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy O 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với Đôn Văn P và Dương Quốc V, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/4/2024, bị cáo Nguyễn Huy O kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huy O thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Huy O tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Huy O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại là Công ty Cổ phần Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Huy O, xác nhận bị cáo đã bồi thường cho Công ty số tiền 8.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O và sửa quyết định của bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Huy O.
Cụ thể:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy O từ 24-30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Huy O, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/7/2023 tại Công ty TNHH T1 địa chỉ: thôn S, xã Y, huyện Q, Hà Nội, Nguyễn Huy O, Đôn Văn P và Dương Quốc V đã có hành vi lợi dụng lúc đêm khuya không có người bảo vệ để hai lần vào Công ty T3 tài sản, gồm: Các tài sản của Công ty TNHH T1 là: 01 chiếc xe lôi, 03 kèo sắt, 01 máy bơm nước (đã hỏng) có trị giá là 1.184.000 đồng; các tài sản của Công ty cổ phần Đ là: 01 máy hàn, 01 máy khoan, 01 máy cắt, 01 máy bơm bù (chưa qua sử dụng), các tài sản khác dùng để thi công công trình phòng cháy chữa cháy (cờ lê, đồng hồ, ống sắt, cút hàn, van khóa...) có trị giá là 56.568.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 57.752.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy O đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Huy O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Huy O là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Huy O có 01 tiền án (đã xóa án tích) và 02 tiền sự (đã hết thời hiệu) thể hiện bị cáo có nhân thân xấu và có ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo đã nhiều lần được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Nguyễn Huy O không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá vai trò đồng phạm khi quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại là Công ty Cổ phần Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Huy O và xác nhận bị cáo đã bồi thường cho Công ty số tiền 8.000.000 đồng (Bút lục 629) nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O và sửa quyết định của bản án sơ thẩm; giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, vẫn đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.
[4]Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Huy O không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy O và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy O 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Huy O không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/8/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |
Bản án số 688/2024/HSPT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 688/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/7/2023 tại Công ty TNHH Thương mại và Kho vận Xuân Thảo địa chỉ: thôn Sơn Trung, xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, Nguyễn Huy Oai, Đôn Văn Phẳng và Dương Quốc Vượng đã có hành vi lợi dụng lúc đêm khuya không có người bảo vệ để hai lần vào Công ty trộm cắp tài sản, gồm: Các tài sản của Công ty TNHH Thương mại và Kho vận Xuân Thảo là: 01 chiếc xe lôi, 03 kèo sắt, 01 máy bơm nước (đã hỏng) có trị giá là 1.184.000 đồng; các tài sản của Công ty cổ phần Đức Nam Anh là: 01 máy hàn, 01 máy khoan, 01 máy cắt, 01 máy bơm bù (chưa qua sử dụng), các tài sản khác dùng để thi công công trình phòng cháy chữa cháy (cờ lê, đồng hồ, ống sắt, cút hàn, van khóa…) có trị giá là 56.568.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 57.752.000 đồng.
