|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 687/2025/DS-PT Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 2 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3795/2025/QĐPT ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Ngô Xuân L, sinh năm 1940. Địa chỉ: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị Kim N, sinh năm 1954. Nơi cư trú: 12 K, L1, V, Australia; Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị Kim N: Bà Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1972, Nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Có mặt.
- Bà Lữ Thị B, sinh năm 1945. Vắng mặt.
- Ông Ngô Xuân X, sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Cùng cư trú: Tổ 29, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị Kim L2, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị Thu M, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang. Có mặt.
- Ông Ngô Thanh P, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số B, khu phố C, Phường Đ, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Tổ F, khóm H, thị trấn N, thị xã T, tỉnh An Giang. Có mặt.
- Ông Ngô Thanh T3, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Đại diện của tất cả các nguyên đơn là: Bà Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Tổ F, khóm H, thị trấn N, thị xã T, tỉnh An Giang. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lương Tường H2 là Luật sư của Công ty L7 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, Thị trấn C, Huyện C, Tỉnh An Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Quốc C (Đã chết tháng 7/2021) và bà Huỳnh Thị T4 (đã chết tháng 9/2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
- Bà Phạm Thị Bích T5, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Có mặt.
- Ông Huỳnh Văn L3, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà T5 và ông L3: Bà Trần Thị Liên H3, sinh năm 1957, nơi cư trú: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Xin hoãn phiên tòa.
- Bà Phạm Thị Huyền T6 (Đã chết ngày 07/02/2024);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị Huyền T6:
- Chị Ngô Thị Tường V, sinh năm 2000. Vắng mặt.
- Chị Ngô Thị Tường N1, sinh năm 2005. Vắng mặt.
- Cùng cư trú: Số F, tổ E, đường V, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Ông Phạm Quốc H4, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Chị Phạm Thị Kiều N2, sinh năm 1998. Vắng mặt.
- Anh Phạm Thành P1, sinh năm 2005. Vắng mặt.
Cùng cư trú: Số A, đường M, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Số F, tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh An Giang. Xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Xin xét xử vắng mặt.
Do có kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn là ông Ngô Xuân L, bà Ngô Thị Kim N (Bà N ủy quyền cho bà Ngô Thị Thanh T7), bà Lữ Thị B, ông Ngô Xuân X, bà Ngô Thị Thu H, bà Ngô Thị Kim L2, bà Ngô Thị Thu M, ông Ngô Thanh P, bà Ngô Thị T1, bà Ngô Thị T2, bà Ngô Thị Thu H1, ông Ngô Thanh T3 trình bày:
Từ trước năm 1975, cụ Ngô Văn K để lại cho con là cụ Ngô Văn T8 trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất diện tích 01 ha 62.50 (16.250m²) thuộc Trích lục địa bộ - số Bằng khoán 150, lô 132, tọa lạc tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Năm 1976, cụ Ngô Văn T8 chết. Cụ T8 có 02 vợ là cụ Trần Thị L4 (chết năm 1940) và cụ Lê Thị Đ1 (chết năm 1989). Các đồng thừa kế tạm giao cho ông Ngô Xuân L (con của cụ T8 và cụ Đ1) tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất trên.
Năm 1983, ông Phạm Quốc C (chồng bà Huỳnh Thị T4) có hỏi và được ông Ngô Xuân L đồng ý cho ở nhờ trên đất diện tích 36m² (ngang 4m, dài 9m) để làm cơ sở sản xuất chế biến tàu hủ, hai bên thỏa thuận miệng mà không làm giấy tờ. Sau nhiều lần mở rộng cơ sở, bà T4 xin ở nhờ và lấn chiếm tổng diện tích 315,2m². Mỗi lần bà T4 lấn chiếm đất, ông L đều có ngăn cản, liên tục nhiều lần tranh chấp nhưng Ủy ban nhân dân (UBND) phường Núi Sam kéo dài mà không được giải quyết và ông L cũng không hiểu biết quy định pháp luật để khởi kiện. Năm 2009, bà T4 đến nhờ ông L xác nhận để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông L đã yêu cầu bà T4 thỏa thuận bồi hoàn giá trị đất để được hợp thức hóa quyền sử dụng đất nhưng gia đình bà T4 không đồng ý mà còn tiếp tục lấn chiếm đất ra đến Quốc lộ I, dựng mái che lấn chiếm cả lối đi tạm của các hộ ở nhờ phía sau cất trên đất của ông L. Đến năm 2013, bà T4 cho ông Nguyễn Văn Đ thuê đất xây dựng nhà trọ B1 với diện tích 315,2m². Hiện nay, những người sử dụng phần đất này là các thừa kế của bà T4, ông C và ông Nguyễn Văn Đ (người thuê đất). Ngày 05/12/2016, các bên đã được UBND phường N mời hòa giải nhưng không thành. Quá trình đo đạc, các thừa kế của bà T4 và ông C sử dụng đất thực tế có diện tích 368,4m² (Đất vị trí 1 diện tích 130,60m² (156,2m² - 25,6m²), vị trí 2 diện tích 212,2m²) và 47,68m² là lối đi.
Nguyên đơn yêu cầu các thừa kế của bà T4, ông C và ông Nguyễn Văn Đ phải tháo dỡ, di dời nhà để trả lại cho các đồng thừa kế của cụ T8 phần đất diện tích 342,8m² (Sau khi trừ diện tích 25,6m² trong biên thu hồi hành lang do Nhà nước quản lý) hoặc bồi hoàn giá trị đất theo tỷ lệ nguyên đơn là 60% và bị đơn là 40%. Nguyên đơn thống nhất giá trị theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T9 ngày 20/6/2022 trị giá 10.630.669.000 đồng (đất vị trí 1 là 41.216.925 đồng/m² và vị trí 2 là 24.730.155 đồng/m²).
Bị đơn là bà Huỳnh Thị T4 và ông Phạm Quốc C (Đều đã chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Phạm Thị Bích T5 và ông Huỳnh Văn L3 ủy quyền cho bà Trần Thị Liên H3, bà Phạm Thị Huyền T6 (Đã chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1, ông Phạm Quốc H4, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 trình bày:
Ông C và bà T4 là chủ sử dụng phần đất diện tích 342,8m², tọa lạc tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Gia đình ông C, bà T4 đã cất nhà ở ổn định trên đất từ năm 1985 đến nay không ai tranh chấp. Về nguồn gốc, đất đang tranh chấp là của ông L cho ở nhờ, sau đó ông L đã giao toàn bộ diện tích đất này cho Ủy ban nhân dân thành phố C quản lý. Sau khi xem xét bị đơn đã xây nhà ở ổn định trên đất nên Ủy ban nhân dân thành phố C đã không yêu cầu bị đơn di dời, xem như được chấp nhận nên gia đình bị đơn đã tiếp tục mở rộng diện tích cất nhà, lấn chiếm dần như diện tích hiện tại. Hiện nay, bị đơn vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích 342,8m² là của Nhà nước chứ không phải của gia đình ông L, vì ông L đã nhận bồi hoàn 02 nền nhà của UBND thành phố C,
Đất bị đơn đã cho ông Nguyễn Văn Đ thuê để xây nhà trọ trên diện tích 342,8m², thời hạn thuê từ năm 2022 đến nay với giá thuê 80.000.000 đồng/năm.
Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn phần đất diện tích 36m² nhưng đất đã được xây dựng nhà kiên cố nên bị đơn đồng ý trả giá trị diện tích đất 36m² theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T9 ngày 20/6/2022. Bị đơn không đồng ý tháo dỡ, di dời nhà và vật kiến trúc trên đất để trả diện tích 306,8m² theo yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông thuê đất diện tích 315,2m² của bà T4 để sử dụng làm nhà trọ được 01 kỳ 05 năm (đã hết hợp đồng vào tháng 11/2017) và đã ký hợp đồng lại với thời hạn thuê đất là 05 năm (đến tháng 11/2022 sẽ hết hạn hợp đồng), giá thuê 80.000.000 đồng/năm. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn, ông không có ý kiến và không tranh chấp. Đối với hợp đồng thuê đất giữa ông với bà T4, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác. Do bận việc gia đình, ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C trình bày: Đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ Ngô Văn K đứng tên Trích lục địa bộ do Ban quản lý ruộng đất tỉnh A trích lục ngày 26/6/1990. Khoảng năm 1991, bà T4 đến cất nhà ở và bắt đầu sử dụng đất. Ngày 13/10/1992, Ủy ban nhân dân xã V (Nay là Phường N) thực hiện san lấp mặt bằng hầm cá miếu B2. Ông Ngô Xuân L và Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản giải quyết tranh chấp khu vực san lấp mặt bằng hầm cá Miếu Bà với nội dung: ông L giao đất cho Ủy ban nhân dân xã V thực hiện san lấp mặt bằng và sẽ nhận lại 02 nền nhà khỏi phải trả tiền, kích thước mỗi nền 4m x 14m và ông L không khiếu nại về sau. Đến cuối năm 2004, sau khi dự án mở rộng và nâng cấp đường hậu Miếu B (Nay là đường C), bà T4 tiếp tục lấn chiếm thêm một phần diện tích đất trong biên giải phóng mặt bằng dự án đường C. Việc lấn chiếm đất của bà T4 cũng đã được Ủy ban nhân dân phường N lập biên bản vi phạm hành chính, ban hành quyết định xử phạt nhưng sau đó phải thu hồi quyết định do không thuộc thẩm quyền xử phạt của UBND phường. Như vậy, nguồn gốc đất là do cụ Ngô Văn K đứng tên Trích lục địa bộ, ông L đã hoán đổi đất với Ủy ban nhân dân xã V đã được nhận lại 02 nền nhà khỏi phải trả tiền với kích thước ngang 4m x dài 14m. Phần đất tranh chấp hiện nay một phần do bà T4 tự cất nhà ở vào năm 1991 và một phần do ba Trầm tự chiếm dụng vào năm 2004.
Ủy ban nhân dân thành phố C trình bày: Đất có nguồn gốc của cụ Ngô Văn K đứng tên sổ địa bộ vào năm 1990. Năm 1991, bà T4 đến ở và cất nhà trên đất. Đến năm 1992, Ủy ban nhân dân xã V thực hiện san lắp mặt bằng nên xảy ra tranh chấp với ông L, giữa Ủy ban nhân dân V với ông L có lập biên bản giải quyết tranh chấp, với nội dung “ông L giao đất cho Ủy ban nhân dân xã V và sẽ nhận lại 02 nền nhà không phải trả tiền, kích thước mỗi nền 4m x 14m; ông L không khiếu nại về sau”. Cuối năm 2004, sau khi thực hiện dự án mở rộng đường H, bà T4 tiếp tục lấn chiếm thêm diện tích đất trong biên giải phóng mặt bằng của dự án, việc này đã được Ủy ban nhân dân phường N lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về việc lấn chiếm đất, sau đó do quyết định sai thẩm quyền nên đã thu hồi. Như vậy, diện tích đất của bà T4 hiện tại là do một phần tự cất nhà ở vào năm 1991 và một phần do lấn chiếm vào năm 2004.
Tại Công văn số 2750/UBND-NC ngày 03/7/2024 của UBND thành phố C có nội dung “Phần đất diện tích 342,8m², tọa lạc tại phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nằm ngoài biên của dự án đầu tư nâng cấp cải tạo đường Miếu B2; Về quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 99 của Luật đất đai năm 2013 quy định trường hợp sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ”. UBND thành phố C xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
Công nhận cho các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L3, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 342,8m², tọa lạc tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang theo Bản trích đo hiện trạng do Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 lập ngày 22/7/2019 tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 13, 30, 18, 19, 20, 21, 23, 31, 32, 27, 28, 33, 29 và các điểm 9, 13, B, A, trên đất có căn nhà của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 (Đính kèm Bản trích đo hiện trạng ngày 22/7/2019).
Các đương sự phải có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L5, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Ngô Xuân L, bà Ngô Thị Kim N, bà Lữ Thị B, ông Ngô Xuân X, bà Ngô Thị Thu H, bà Ngô Thị Kim L2, bà Ngô Thị Thu M, ông Ngô Thanh P, bà Ngô Thị T1, bà Ngô Thị T2, bà Ngô Thị Thu H1, ông Ngô Thanh T3 số tiền 6.378.401.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang còn quyết định về án phí và chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 01/10/2024, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn - Ông Huỳnh Văn L3 và bà Phạm Thị Bích T5 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm
* Bị đơn có kháng cáo - bà Phạm Thị Bích T5 trình bày:
Quá trình sử dụng đất, đất tranh chấp mẹ tôi mượn của ông L để ở nhờ. Sau đó mảnh đất này ông L đã giao cho UBND xã nên UBND xã đã đuổi gia đình tôi từ đó đến nay. Sau đó, mẹ tôi có khiếu nại và đã được UBND có văn bản đồng ý sẽ cấp đất cho gia đình tôi. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do đất ông L đã giao cho Ủy ban nhân dân xã V.
* Các đồng nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trình bày:
Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn L3, bà Phạm Thị Bích T5 nằm trong hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm thu thập đánh là đầy đủ chứng cứ, bản án tuyên có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Huỳnh Văn L3, bà Phạm Thị Bích T5, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Bích T5, ông Huỳnh Văn L3 làm trong hạn luật định, là hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Thị Bích T5 có mặt, ông Huỳnh Văn L3, là người kháng cáo, được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Trần Thị Liên H3 là người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn L3 và bà Phạm Thị Bích T5, cũng được triệu tập hợp lệ, có yêu cầu xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe nhưng chỉ cung cấp đơn thuốc mà không cung cấp được tài liệu của cơ sở y tế xác nhận việc không đủ điều kiện sức khỏe để tham gia phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Nguồn gốc phần đất diện tích 01 Ha 62.50 (16.250m²) thuộc Trích lục địa bộ - số địa bộ B3 khoán 150, số lô 132, tọa lạc tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang là của cụ Ngô Văn K để lại cho cụ Ngô Văn T8 trước năm 1975. Cụ Ngô Văn T8 (chết năm 1976), những người thừa kế của cụ T8 tạm giao phần đất trên cho ông Ngô Xuân L (con của cụ T8 và cụ Lê Thị Đ1) tiếp tục quản lý sử dụng. Năm 1983, ông L có cho ông Phạm Quốc C (chồng bà Huỳnh Thị T4) ở nhờ trên phần đất diện tích 36m² (ngang 4m x dài 9m) để làm cơ sở sản xuất chế biến tàu hủ.
Nguyên đơn cho rằng trong quá trình sử dụng đất gia đình bị đơn đã lấn chiếm đất ngoài diện tích được cho ở nhờ nên khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại giá trị quyền sử dụng đất diện tích 342,8m² theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T9 ngày 20/6/2022 trị giá 10.630.669.000 đồng (đất vị trí 1 diện tích 130,60m² x 41.216.925 đồng/m² = 5.382.930.405 đồng và vị trí 2 diện tích 212,2m² x 24.730.155 đồng/m² = 5.247.738.891 đồng).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cho rằng nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ông L cho ở nhờ và gia đình cơi nới thêm, sử dụng ổn định từ năm 1985 đến nay. Năm 1992 ông L đã thỏa thuận hoán đổi đất với Ủy ban nhân dân xã V (Nay là phường N), thành phố C nên đất này là của Nhà nước nên không đồng ý trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
Xét thấy, tại Công văn số 2537/UBND-NC của UBND thành phố C có nội dung nguồn gốc đất là do ông Ngô Văn K đứng tên trích lục địa bộ; khoảng năm 1991 bà T4 đến cất nhà ở và sử dụng đất. Tại Biên bản thỏa thuận hoán đổi đất ngày 13/10/1992 giữa Ủy ban nhân dân xã V và ông Ngô Xuân L có nội dung “ông L giao đất cho Ủy ban nhân dân xã V và sẽ nhận lại 02 nền nhà không phải trả tiền, kích thước mỗi nền 4m x 14m, ông L không khiếu nại về sau”. Tại Quyết định số 2130/UĐ.UBND.KN ngày 15/12/2005 của UBND thành phố C có đoạn ghi: “Hủy bỏ Biên bản thỏa thuận ngày 13/10/1992 của UBND xã V...” và tại Công văn số 2744/UBND-NC ngày 23/8/2019 của UBND thành phố C có nội dung “Qua rà soát hồ sơ tại Phòng tài nguyên và môi trường, Thanh tra C và UBND phường N, các đơn vị không lưu trữ Quyết định nào thay thế Quyết định số 2130/UĐ.UBND.KN ngày 15/12/2005 của UBND thành phố C hay biên bản nào khác thỏa thuận giải quyết san lắp mặt bằng hầm cả Miếu B2 với hộ ông Ngô Xuân L..”. Ngoài ra, tại Công văn số 2750/UBND-NC ngày 03/7/2024 của UBND thành phố C có nội dung “Phần đất diện tích 342,8m², tọa lạc tại phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nằm ngoài biên của dự án đầu tư nâng cấp cải tạo đường Miếu B2”.
Từ những chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất diện tích 342,8m² theo Bản trích đo hiện trạng của Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 lập ngày 22/7/2019 tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 13, 30, 18, 19, 20, 21, 23, 31, 32, 27, 28, 33, 29 và các điểm 9, 13, B, A là của gia đình cụ T8 để lại cho các nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp.
Việc bị đơn cho rằng ông L đã giao phần đất diện tích 342,8m² cho Nhà nước và đã nhận 02 nền đất nhưng không cung cấp được quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn buộc bị đơn trả lại đất cho ở nhờ và đất lấn chiếm là có căn cứ. Lẽ ra, cần buộc bị đơn tháo dỡ, di dời nhà trả lại đất cho nguyên đơn nhưng hiện nay bị đơn đã xây dựng căn nhà kiên cố trên diện tích 342,8m² từ năm 1985 đến nay và đã có công sức cải tạo, giữ gìn làm tăng giá trị đất và nếu tháo dỡ, di dời nhà sẽ hư hỏng toàn bộ kết cấu căn nhà gây thiệt hại cho bị đơn. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả 60% giá trị quyền sử dụng đất là phù hợp với các quy định của pháp luật và bảo đảm quyền lợi cho phía bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận nội dung này là có cơ sở.
Như vậy, việc các thừa kế của ông C và bà T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L6, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích 342,8m² và cùng có nghĩa vụ liên đới trả giá trị đất cho các nguyên đơn với số tiền 6.378.401.000 đồng là có căn cứ.
Ông Huỳnh Văn L3 và bà Phạm Thị Bích T5 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Huỳnh Văn L3 và bà Phạm Thị Bích T5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Bích T5, ông Huỳnh Văn L3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang như sau:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
Công nhận cho các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L6, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 342,8m², tọa lạc tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang theo Bản trích đo hiện trạng do Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 lập ngày 22/7/2019 tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 13, 30, 18, 19, 20, 21, 23, 31, 32, 27, 28, 33, 29 và các điểm 9, 13, B, A, trên đất có căn nhà của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 (Đính kèm Bản trích đo hiện trạng ngày 22/7/2019).
Các đương sự phải có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Buộc các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L6, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Ngô Xuân L, bà Ngô Thị Kim N, bà Lữ Thị B, ông Ngô Xuân X, bà Ngô Thị Thu H, bà Ngô Thị Kim L2, bà Ngô Thị Thu M, ông Ngô Thanh P, bà Ngô Thị T1, bà Ngô Thị T2, bà Ngô Thị Thu H1, ông Ngô Thanh T3 số tiền 6.378.401.000 đồng.
-
Về chi phí tố tụng:
3.1. Các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L3, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị Thu H1 số tiền 27.132.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ và phải nộp 3.000.000 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp.
3.2. Nguyên đơn phải chịu 30.132.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp.
-
Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả cho bà Ngô Thị Thu H1 số tiền 20.300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu số 0002084 ngày 01/11/2017 và số 0002089 ngày 06/11/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Các thừa kế của ông Phạm Quốc C và bà Huỳnh Thị T4 là bà Phạm Thị Bích T5, các con của bà Phạm Thị Huyền T6 là chị Ngô Thị Tường V, chị Ngô Thị Tường N1; ông Phạm Quốc H4, ông Huỳnh Văn L3, chị Phạm Thị Kiều N2, anh Phạm Thành P1 phải chịu 114.738.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Về án phí phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn L3, bà Phạm Thị Bích T5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng, được khấu trừ vào các biên lai số 0000051 và 0000052 cùng ngày 25/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
-
Về thi hành án:
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Chung Văn Kết Cao Văn Tám |
Bùi Thị Thu |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thu |
Bản án số 687/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 687/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Bích T5, ông Huỳnh Văn L3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.