Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 685/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14-8-2023.

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Nguyên;
  • 2. Bà Trần Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 274/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Đào Thị Thu H; sinh năm: 1981;

Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm: 1982,

Địa chỉ: B ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Đào Thị Thu H trình bày:

Bà H và ông Huỳnh Văn H1 có tìm hiểu, tổ chức đám cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2005, Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2005, quyển số 01/P11 do U, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2005, thời gian đầu sống chung hạnh phúc, sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, do tính tình quan điểm sống không còn hòa hợp, vợ chồng không có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Bà và ông H1 sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu ly hôn với ông H1.

Về con chung: Có 04 người con chung, tên Huỳnh Thị Yến V, sinh ngày 31/3/2006; Huỳnh Văn K, sinh ngày 01/3/2009; Huỳnh Văn P, sinh ngày 29/8/2011 và Huỳnh Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/3/2014. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung tên Huỳnh Văn P, sinh ngày 29/8/2011 và Huỳnh Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/3/2014. Bà yêu cầu giao trẻ Huỳnh Thị Yến V, sinh ngày 31/3/2006; Huỳnh Văn K, sinh ngày 01/3/2009 cho ông H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Trẻ Phú và trẻ C đang sống chúng với bà H, trẻ V và trẻ K đang sống chung với ông H1.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt tại Tòa án, không thể hiện ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1].Đào Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Văn H1. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện B nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2005, quyển số 01/P11 do U, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2005 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Đào Thị Thu H và ông Huỳnh Văn H1 là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định đời sống chung vợ chồng giữa bà H và ông H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống với nhau, hai người không còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy ông H1 đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Thu H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Bà H và ông H1 Có 04 người con chung, tên Huỳnh Thị Yến V, sinh ngày 31/3/2006; Huỳnh Văn K, sinh ngày 01/3/2009; Huỳnh Văn P, sinh ngày 29/8/2011 và Huỳnh Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/3/2014. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung tên Huỳnh Văn P, sinh năm 2011 và Huỳnh Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/3/2014. Bà yêu cầu giao trẻ Huỳnh Thị Yến V, sinh ngày 31/3/2006; Huỳnh Văn K, sinh ngày 01/3/2009 cho ông H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Trẻ Phú và trẻ C đang sống chúng với bà H, trẻ V và trẻ K đang sống chung với ông H1.

Xét, việc lấy ý kiến trẻ được ghi nhận tại Tòa án, trẻ Huỳnh Thị Yến V và trẻ Huỳnh Văn K có nguyện vọng được ở cùng với cha; trẻ Huỳnh Văn PHuỳnh Ngọc Bảo C có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Hiện tại trẻ V và trẻ K đang sống với ông H1, trẻ P và trẻ C đang sống với bà H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ P, trẻ C cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao trẻ V, trẻ K cho Ông H1 nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H1 và bà H.

[2.3]. Về tài sản chung: Bà H xác định không có, còn ông H1 vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung giữa ông và bà H. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về tài sản chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[2.4]. Về nợ chung: Bà H xác định không có, còn ông H1 vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung giữa ông và bà H. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về nợ chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[3]. Về án phí: Bà Đào Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • - Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Thu H.
    1. Về quan hệ hôn nhân:Đào Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn H1 (bà H và ông H1 đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số số 83/2005, quyển số 01/P11 do U, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2005).
    2. Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Văn P, sinh ngày 29/8/2011 và Huỳnh Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/3/2014 cho bà Đào Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
    3. Giao trẻ Huỳnh Thị Yến V, sinh ngày 31/3/2006 và trẻ Huỳnh Văn K, sinh ngày 01/3/2009 cho Ông Huỳnh Văn H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

      Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H1, bà H.

      Ông H1 và Bà H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

      Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    4. Về tài sản chung: Bà H xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
    5. Về nợ chung: Bà H xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.

  2. Về án phí:Đào Thị Thu H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0042753 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.BC;
  • - Chi cục THADS H.BC;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

Lê Ngọc Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 685/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 685/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 212
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger