|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 685/2024/DS-PT Ngày: 27/11/2024 V/v tranh chấp về thừa kế |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Bà Trần Thị Liên Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Lê Đức Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14/10; ngày 21/11 và ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 215/2024/TLPT-DS ngày 21/6/2024, về việc “ Tranh chấp chia thừa kế”.
Do bản án số 180/DS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2024/QĐ-PT ngày 04/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 539/2024/QĐPT-HPT ngày 18/9/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 552/2024/QĐ-PT ngày 14/10/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 490/2024/TB-TA ngày 05/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 618/2024/QĐ-PT ngày 21/11/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị B năm 1955;
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ G, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội ( Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà BBà Đào Thị Lbà Khúc Thị Q– Công ty L23 ( Có mặt bà L).
Bị đơn:
1/Ông Trịnh Văn H29, sinh năm 1963 ( đã chết năm 2024).
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông H: Bà Nguyễn Thị M T8.
Địa chỉ: Số nhà A+109+112, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền của anh Hlanh H2chị Vbà Nguyễn Thị M1 ( Có mặt).
2/ Ông Trịnh Văn H1 năm 1966.
Địa chỉ: Số nhà A+111, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội( Có mặt) .
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị M2 năm 1963.
Địa chỉ: Số nhà A+109+112, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội(Có mặt).
2/ Bà Lê Thị X năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà A+111, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội ( Có mặt).
3/ Bà Trịnh Thị L1sinh năm 1958.
Địa chỉ: Thôn V, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội( Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị D năm 1981
Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội.
( Có mặt).
4/ Ông Trần Q1 Q1sinh năm 1940.
Địa chỉ: Số nhà E, tổ B, phường K, quận H, thành phố Hà Nội ( Có mặt).
5/ Anh Trịnh Văn H2 Vắng mặt.
6/ Chị Nguyễn Thị L1 Vắng mặt.
7/ Cháu Trịnh Thị K H4 Vắng mặt.
8/ Cháu Trịnh Văn V H5
Người đại diện theo pháp luật cho cháu H4H5Trịnh Văn H2Nguyễn Thị L2
9/Anh Trịnh Văn H1 Vắng mặt.
10/ Chị Lê Thị L2 Vắng mặt.
11/ Cháu Trịnh Lê Thu N
12/ Cháu Trịnh Lê M3 N1
13/ Cháu Trịnh Văn V T
Người đại diện theo pháp luật cho cháu NNTlà anh Trịnh Văn H3 chị Lê Thị L2
Đều trú tại: Số nhà A, A tổ dân phố A, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội
14/ Anh Trịnh Văn H4 Vắng mặt
15/ Chị Đỗ Thị Vân A Vắng mặt.
16/ Anh Trịnh Văn H5 Vắng mặt.
17/ Chị Đỗ Hà A1. Vắng mặt.
18/ Cháu Trịnh Gia B1 Vắng mặt.
19/ Cháu Trịnh Bảo N1 Vắng mặt.
20/ Cháu Trịnh Bảo T Vắng mặt.
21/ Cháu Trịnh Ngọc L3 Vắng mặt.
22/Cháu T. Vắng mặt.
Đều trú tại: Số nhà A, A tổ dân phố A, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội
23/ Anh Đ, Đ, M, Hà NộiVắng mặt.
24/ Anh Đặng Vĩnh PH, B, huyện B, thành phố Hà Nội
25/ Anh Vũ Thế T1, Hà Nam
26/Anh Nguyễn Văn SH, Ứ, Hà Nội Vắng mặt.
27/ Anh Nguyễn Văn T2, Hòa B2.
28/ Anh Đỗ Văn T3, G, Nam Định
29/ Chị Nguyễn Thị H6, Hà NộiVắng mặt.
30/ Anh Trần Văn H7, Thái Bình Vắng mặt.
31/ Anh Nguyễn Quốc C, M, Hà Nội Vắng mặt.
32/ Anh Đặng Văn H8, Thanh Hóa Vắng mặt.
33/ Anh Nguyễn Văn C1, M, Hà Nội Vắng mặt.
34/ Anh Nguyễn Đức H9, Thanh Hóa Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn bà Trịnh Thị B3 bày: Bố đẻ của bà là cụ Trịnh Văn D1, sinh năm 1923 (mất ngày 13 tháng 7 năm 1981), mẹ đẻ của bà là cụ Lê Thị L4, sinh năm 1921 (mất ngày 24 tháng 5 năm 2002). Bố mẹ bà có 06 người con là: Trịnh Thị BTrịnh Thị L HTrịnh Văn H Văn T Thị X1Trong đó, có 02 người đã mất là ông Trịnh Văn T4 sinh năm 1972 tại miền Đ lúc hy sinh chưa lập gia đình, không có bố mẹ nuôi, không có vợ, không có con đẻ, con nuôi và bà Trịnh Thị X1 do bệnh tật năm 1973, trước khi chết cũng không có bố mẹ nuôi, chưa lập gia đình. Ông bà nội và ông bà ngoại của bố mẹ bà đều đã chết trước bố, mẹ bà. Ngoài 06 người con chung không có người con nuôi, con riêng nào theo quy định của pháp luật, chỉ có nhận ông Trần Q1 Q1là con nuôi, nhưng là nhận trong gia đình chứ không có giấy tờ gì. Khi cụ D1và cụ L6chết không để lại di chúc mãi sau này bà mới được biết là cụ L5có viết di chúc để lại do gia đình ông H10 H3nộp.
Khi các cụ mất để lại các di sản gồm:
1. Đất ở tại đô thị:
Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1985:
Thửa 1: Thửa số 522, tờ bản đồ số 9, diện tích 617m, loại đất ao mang tên Trịnh Văn D1
Thửa 2; thừa số 534, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.040m, loại đất T55, mục tên chủ sử dụng đất: không ghi tên ai.
Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1998:
Thửa1: Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 54, diện tích 1170,2 m, loại đất ở, trên hồ sơ địa chính ghi tên Trịnh Văn H11
Thửa 2: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 54, diện tích 522,7 m², loại đất ở, trên hồ sơ địa chính ghi tên Trịnh Văn H29
Hiện nay hai thửa đất trên thì thửa 1 do ông Trịnh Văn H12 quản lý và sử dụng, còn thửa số 2 do Trịnh Văn H13 lý và sử dụng.
2. Đất nông nghiệp:
Theo sổ địa chính do chủ tịch UBND xã Klập, ký tên đóng dấu ngày 02/09/1993, được Chủ tịch UNBND thị xã H ký duyệt tháng 9 năm 1993: tại trang số 109, số thứ tự 160, quyền số 04, đứng tên hộ bà Lê Thị L5 tổng diện tích là 240m cụ thể gồm:
Thửa 1: tờ bản đồ số 13, số thừa chung 41, số thửa riêng là 9, xứ đồng Mùa Cdiện tích 126,0 m đã thu hồi hết diện tích vào dự án tái định cư.
Thừa 2: tờ bản đồ số 11, số thừa chung 197, số thừa riêng 3, xứ đồng Thôn Ldiện tích 114,0 m đã thu hồi một phần vào dự án đường 18,5 m là 52,90 m, diện tích đất còn lại là 61,1 m.
Đất 5% được nhà nước giao tại thời điểm những nhân khẩu có mặt tại địa phương cuối năm 1959 đầu năm 1960, xứ đồng Chi Hin, số tờ bản đồ số 10, số thửa 268, diện tích 180,0 m (gồm các định xuất: L24 D1Trịnh Văn T Thị X).
Trong đó, thửa đất còn lại là 61,1 m ở xứ đồng Thòn Lòn và đất 5% diện tích 180,0 m chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi chết, bố tôi là Trịnh Văn D1mẹ tôi là cụ Lê Thị L6 tôi là ông Trịnh Văn T5 tôi là bà Trịnh Thị X2 để lại di chúc, không phân chia cho ai quản lý và sử dụng diện tích đất nông nghiệp và đất 5% còn lại nêu trên.
Hiện nay đất nông nghiệp đang bỏ không không ai sử dụng.
Nay bà đề nghị Toà án giải quyết các yêu cầu chia thừa kế như sau:
1. Đối với đất ở:
Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 54, diện tích 1170,2 m, loại đất ở, trên hồ sơ địa chính ghi tên Trịnh Văn H26 di sản này đề nghị chia đều cho các đồng thừa kế của bố mẹ bà và bà cùng bà L1xin nhận bằng hiện vật.
Thửa 2: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 54, diện tích 522,7 m, loại đất ở, trên hồ sơ địa chính ghi tên Trịnh Văn H14 di sản này đề nghị chia đều cho các đồng thừa kế của bố mẹ bà và bà cùng bà L1xin nhận bằng hiện vật.
2. Đối với đất nông nghiệp:
-Thửa đất thuộc tờ bản đồ số 11, số thửa chung 197, số thửa riêng 3, xứ đồng Thòn Lòn, diện tích 114,0 m² đã thu hồi một phần vào dự án đường 18,5 m2 là 52,90 m2, diện tích đất còn lại là 61,1 m², bà đề nghị chia đều cho các đồng thừa kế.
-Đất 5% được nhà nước giao cho 5 nhân khẩu gồm: bố, mẹ bà, ông Trịnh Văn T5Trịnh Thị B4, Trịnh Thị X1cuối năm 1959 đầu năm 1960 theo xác nhận của UBND phường Kmỗi người 36m2 tại xứ đồng Chi Hín, số tờ bản đồ số 10, số thửa 268, diện tích 180,0 m2. Nay, bà đề nghị, xuất của bà trả cho bà L1xuất của bà X1ông T5 không yêu cầu chia vì khi bố mẹ bà còn sống đã giao cho ông H(để thờ cúng). Bà đề nghị chia đều xuất đất 5% diện tích 72m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng này cho các đồng thừa kế.
Đối với chi phí tố tụng như: Bản đo vẽ sơ đồ 02 thửa đất tranh chấp; Xem xét thẩm định và định giá tài sản bà đã thanh toán đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Bđề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngoài các vấn đề trên bà B19 yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
*Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn H15 bà Nguyễn Thị M4 bày: Ông H16 nhận về quan hệ huyết thống như bà B3 bày là đúng. Về nguồn gốc di sản của bố mẹ để lại thì bà B3 bày như vậy là không đúng vì:
1.Đối với đất ở:
Khi bố mẹ ông H17 sống ông, bà có mua được khoảng hơn 600 m² đất ao còn khoảng hơn 500 m² đất ở là do từ thời cụ kỵ để lại không phải là tài sản của bố mẹ ông, bà . Theo “Chúc thư phân chia gia sản” của mẹ ông H cụ Lê Thị L7 ngày 04/5/1991, có cụ Lê Trọng P1(cậu ruột) và ông Trần Quý Q2(anh nuôi) làm chứng đã phân chia cho hai anh em ông H ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H18 không cho bà BChúc thư do ông Q2ghi lại lời mẹ ông nói và cũng là ý nguyện của bố ông lúc còn sống, khi lập chúc thư mẹ ông, bà tinh thần minh mẫn, khỏe mạnh, tỉnh táo, không bị ai ép buộc. Chúc thư của mẹ ông, bà đã ghi “có giá trị cho con cháu và mãi về sau này”. Kể từ khi được bố mẹ cho đất vào năm 1991,ông H sử dụng ổn định và nộp thuế đất hàng năm cho đến nay. Do đó tôi khẳng định việc bà Trịnh Thị B5 kiện là không có căn cứ pháp lý. Vấn đề này đã được ghi nhận rõ ràng trong (biên bản hội nghị về việc xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất ở và đất nông nghiệp còn lại của cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L8 lại ở M, phường K, quận H, thành phố H đầy đủ tất cả anh - chị em trong gia đình tham gia ngày 20/03/2020.
2. Đối với đất nông nghiệp:
Khi bố mẹ ông H còn sống thì không để lại giấy tờ chia đất nông nghiệp cho ai. Khi bố mẹ qua đời, các anh chị em trong gia đình (trong đó có bà Trịnh Thị B6 tự phân chia với nhau. Đất nông nghiệp hiện nay do ông H19 đứng tên quản lý và hiện nay đang để không. Nay bà Trịnh Thị B7 cầu
chia đối với phần đất nông nghiệp này thì ông, bà cũng nhất trí chia đều theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông Hbà M5 đề nghị do hiện nay ông, bà là người cao tuổi, ông H20 đang bị bệnh hiểm nghèo nên đề nghị Tòa án xem xét miễn giảm án phí cho ông, bà.
Ngoài các vấn đề trên ông H21 M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
*Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn H22 bà Lê Thị X3 trình bày: Ông H11 xác nhận về quan hệ huyết thống như bà B3 bày là đúng. Về nguồn gốc di sản của bố mẹ ông H3để lại thì bà B3 bày như vậy là không đúng vì:
1.Đối với đất ở:
Khi bố mẹ ông H3còn sống ông, bà có mua được khoảng hơn 600 m² đất ao, nhưng không có đường đi còn khoảng hơn 500 m² đất ở là do từ thời cụ kỵ để lại không phải là tài sản của bố mẹ ông H11
Khi bà B8 lấy chồng mẹ ông H11 đã cho bà B9 hồi môn tương đương với phần tài sản mẹ ông H11 cho ông H11 nên mẹ ông H11 đã lập “Chúc thư phân chia gia sản” của mẹ ông H11 là cụ Lê Thị L7 ngày 04/5/1991, có cụ Lê Trọng P1(cậu ruột) và ông Trần Quý Q2(anh nuôi) làm chứng đã phân chia cho hai anh em là ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H18 không cho bà B. Chúc thư do ông Q2ghi lại lời mẹ ông H11 nói và cũng là ý nguyện của bố ông H11 lúc còn sống, khi lập chúc thư bà L4 tinh thần minh mẫn, khỏe mạnh, tỉnh táo, không bị ai ép buộc. Chúc thư của mẹ ông H11 đã ghi “có giá trị cho con cháu và mãi về sau này”. Kể từ khi được bố mẹ cho đất vào năm 1991, Ông H3và và X sử dụng ổn định và nộp thuế đất hàng năm cho đến nay. Do đó ông H3bà X khẳng định việc bà Trịnh Thị B5 kiện là không có căn cứ pháp lý. Vấn đề này đã được ghi nhận rõ ràng trong (biên bản hội nghị về việc xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất ở và đất nông nghiệp còn lại của bố ông H11 là cụ Trịnh Văn D2 mẹ ông H11 là cụ Lê Thị L8 lại ở M, phường K, quận H, thành phố H đầy đủ tất cả anh- chị em trong gia đình tham gia ngày 20/03/2020.
2. Đối với đất nông nghiệp:
Khi bố mẹ ông H11 còn sống thì không để lại giấy tờ chia đất nông nghiệp cho ai. Khi bố mẹ qua đời, các anh chị em trong gia đình (trong đó có bà Trịnh Thị B6 tự phân chia với nhau. Nay bà Trịnh Thị B7 cầu chia đối với phần đất nông nghiệp này thì ông H3bà X cũng nhất trí chia đều theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông H3bà X đề nghị Tòa án giải quyết bà B5 kiện thì phải chịu án phí.
Ngoài các vấn đề trên ông H3bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
*Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Q1 Q1 trình bày: Ông Q1xác nhận ông là con nuôi của cụ Lê Thị L4( Nậm ). Việc cụ L4 nhận ông làm con nuôi thì chỉ có trong gia đình cụ L5biết chứ không có chứng nhận gì của chính quyền địa phương.
Ngày 04/5/1991 cụ L5có gọi ông đến và nói cụ muốn phân chia đất đai của cụ cho 02 người con trai của cụ và nhờ ông chắp bút ghi lại ý kiến nguyện vọng của cụ. Khi ở nhà cụ ngoài ông ra còn có ông Lê Trọng P2 em trai cụ L5cùng 02 con trai của cụ là ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H11( tức T6). Theo nguyện vọng của của L5thì cụ cho các con trai của cụ như sau:
- Phần nhà: Cho con út 3 gian nhà ngang tại phần nhà, đất trong nền nhà được phép hạ bằng mặt sân. Riêng tường hậu của nhà nếu chú H23 để lại làm tường rào thì tính ra gạch trả cho chú T6
- Phần đất sử dụng công bố như sau: Chú T6lấy từ rãnh nước cũ hất về phía Tây. Ghi chú: Lấy giữa rãnh làm tâm. Phần ngõ đi: Chú Tóđi ngõ phía sau nhà chú H( bớt lại từ tường hậu nhà cũ đang ở ra 0,50 m để mở cửa sổ và rãnh thoát nước. Ngõ ra ao đi chung. Hiện trạng cái cây cối thuộc phần đất nào thì phần đất đấy được hưởng.
- Phần ao: Nay chia ngang ao mỗi chú ½ ao ( bờ ao chạy dọc, phía của chú H24 được cây gì 2 anh em cùng hưởng, còn bờ ao của chú T6làm đường đi ra ao. Phần công bố cho các con cụ thể như trên đã được toàn thể gia đình và các con nhất trí.
Tại thời điểm viết di chúc thì cụ L5và tôi đều viết là N4là do lúc đó chúng tôi cũng không ý thức được cụ L5là L5hay Nậm chứ thực tế chỉ là 01 người.
Sau khi cụ L5phân chia xong thì 02 con trai cụ L5đã tự phân chia nhà đất để xây dựng như hiện nay. Thời điểm đó bà B12 bà L1 đã đi lấy chồng ở chỗ khác và cũng không có ý kiến gì.
Ông Q1khẳng định việc ông chắp bút viết di chúc cho cụ L5là hoàn toàn đúng theo ý nguyện của L5nếu sai ông hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Sau khi viết xong thì toàn bộ những người có mặt ngày hôm đó đã ký vào “chúc thư phân chia gia sản”. Hiện ông Lê Trọng P3 trai của cụ L5đã mất từ năm 1996.
Nay bà Trịnh Thị B10 gái của cụ L5khởi kiện yêu chia thừa kế thì ông cũng đã nắm được và không có yêu cầu gì đối với di sản của các cụ để lại. Ông Q3 xin từ chối đối với mọi quyền lợi của ông.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có ý kiến gì.
Tại bản án số 180/DS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà B11 việc chia thừa kế tài sản đối với di sản của cụ D1và cụ L5
- Xác nhận nhà đất tại thửa đất số 1 và thửa đất số 12 là tài sản chung của cụ D1và cụ L5có diện tích đo thực tế là 1.833 m² .
- Xác nhận cụ Trịnh Văn D1chết ngày 13 tháng 7 năm 1981 không để lại di chúc, di sản của cụ D1có ½ diện tích đất là 916,9 m² . Chia thừa kế cho các đồng thừa kế thuộc thừa kế thứ nhất của cụ D1gồm cụ L5bà Bbà Llông Hvà ông H3bằng hiện vật và ở phần đất hiện nay đang có 03 dãy nhà thuê trọ do ông H3quản lý và sử dụng có diện tích 355 m²; 01 dãy nhà trọ và vườn do ông H19 quản lý và sử dụng có diện tích 255 m². Khi chia phải dành 1 phần diện tích để làm lối đi chung có diện tích là 106,2 m² và trích chia công sức cho ông H45,35 m², ông H3115,35 m² đất ( vì nhà ông H3có công sức trong việc quản lý, duy trì, tôn tạo 01 ngõ đi như hiện trạng), tổng 160,7 m², còn lại 650 m² đất là di sản của cụ Dldi sản thừa kế của cụ D1 để lại chia làm 05 phần cho các hàng thừa kế gồm: C2 ông Trịnh Văn H25 thể mỗi kỷ phần là 650 m² : 5 = 130 m² .
- Xác nhận cụ Lê Thị L9 ngày 24/5/2002 có để lại di chúc tài sản cho ông Trịnh Văn Hvà Trịnh Văn H26 di sản thừa kế của cụ L5để lại gồm: Phần tài sản trong khối tài sản chung với cụ D1( 50% ) + phần thừa kế cụ L5được hưởng của cụ D1( 1/5 ). Cụ thể là: 916,9 m² + 130 m² = 1.046,9 m² . Phần di sản này của cụ L5ông Hông H3đã tự phân chia di sản và xây dựng nhà kiên cố như hiện nay nên cần giữ nguyên hiện trạng.
Cụ thể các đương sự được quyền sở hữu và sử dụng phần diện tích nhà đất như sau:
- -Dành 01 phần diện tích đất làm ngõ đi chung cho những người thừa kế có diện tích là 106,2 m² được giới hạn bởi các điểm 9, 61, 60, 59, 58, 57, 56, 55, 6, 5, 4, 3, 36, 37, 38, 43, 44, 45, 46, 47, 52, 53, 54, 10 ( có sơ đồ kèm theo ).
- -Diện tích ông H27 hưởng di sản của cụ D1và cụ L5và công sức của ông Hbà M6 chia cụ thể là 644.9 m² được giới hạn bởi các điểm 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 51, 50, 49, 48, 47 và các điểm 1, 2, 3, 36, 35 ( có sơ đồ kèm theo).
- -Diện tích ông H3được hưởng di sản của cụ D1và cụ L5và công sức của ông H3bà Xđược chia cụ thể là 837,9 m² được giới hạn bởi các điểm 47, 48, 49, 50, 51, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 43, 44, 45, 46 và các điểm 8, 9, 61, 60, 59, 58, 57, 56, 55, 6, 7 ( có sơ đồ kèm theo ).
- -Diện tích bà B14 hưởng di sản của cụ D1được chia cụ thể là 130 m² được giới hạn bởi các điểm 34, 35, 36, 37 ( có sơ đồ kèm theo ).
- -Diện tích bà L1được hưởng di sản của cụ D1được chia cụ thể là 130 m² được giới hạn bởi các điểm 31, 32, 33, 34, 37, 38, 43 ( có sơ đồ kèm theo ).
- 5/ Xác nhận di sản của cụ D1cụ L5là 72 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và 61,1 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
Chia cụ thể như sau:
- -Ông H3được sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
- -Ông H27 sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
- -Bà B14 sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
- -Bà L1 được sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
Tại phần diện tích bà B12 bà L1được chia nếu có công trình xây dựng hoặc cây trồng của gia đình ông H10 H3thì gia đình ông H10 H3phải phá dỡ, chặt bỏ hoặc di dời đi nơi khác. Bà B13 L1không phải thanh toán giá trị tài sản xây dựng công trình và cây cối trên đất cho gia đình ông H15 ông H3
Các bên có quyền xây riêng biệt phần diện tích nhà đất được chia, phí tổn bên nào xây thì bên đó chịu và tự tháo dỡ phần nhà đã tự xây dựng trước đó.
Các đương sự có trách nhiệm đến các cơ quan quản lý nhà đất có thẩm quyền để kê khai chỉnh lý biến động hoặc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 02/01/2024 bà Trịnh Thị B12 bà Trịnh Thị L10 đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 180/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Ngày 25/12/2023 ông Trịnh Văn H11 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ số 180/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa Nguyên đơn bà Trịnh Thị B4 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn là ông Trịnh Văn H11 xin rút yêu cầu kháng cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị L11 rút yêu cầu kháng cáo và có ý kiến kỷ phần của bà được hưởng nay bà đồng ý cho ông H11 và đề nghị Tòa án chia gộp phần diện tích đất bà được hưởng vào chung với phần đất của ông H3 được hưởng.
Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích vụ án có quan điểm: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở xác định cụ Trịnh Văn D1( chất năm 1981) và cụ Lê Thị L4( chết năm 2002). Các cụ có 06 người con là: bà Trịnh Thị B13 Trịnh Thị L1ông Trịnh Văn H29( chết năm 2024) có vợ là bà Nguyễn Thị M7 các con là Trịnh Văn H2Trịnh V1 H1Trịnh Thị Vân A2 ông Trịnh Văn T6(chết năm 1972) không có vợ con; bà Trịnh Thị X4( chết năm 1973) không có chồng con; Di sản của các cụ để lại là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 01 và 12 tờ bản đồ số 54 hiện gia đình ông H10 H3đang quản lý sử dụng. Cụ D1chết không để lại di chúc, cụ L5chết có để lại di chúc tuy nhiên di chúc của cụ L5không hợp pháp do vi phạm hình thức và nội dung. Vì vậy đề nghị Tòa án hủy di chúc của cụ L5và chia thừa kế theo pháp luật.
Về công sức tôn tạo di sản thừa kế xét thấy quá trình quản lý sử dụng gia đình ông H10 H3không có công sức gì vì hai ông đã phá nhà của các cụ đi và xây nhà ở và xây dựng các khu cho sinh viên thuê như hiện nay; khi các cụ mất thì toàn bộ chi phí mà chay là tiền của các cụ và do các con đóng góp.
Do vậy di sản thừa kế của các cụ để lại được chia theo pháp luật cụ thể sau khi trừ đi diện tích đất làm lối đi chung thì diện tích đất còn lại được chia đều cho các đồng thừa kế. Cụ thể mỗi kỷ phần được 346,68m2 đất và chia bằng hiện vật cho các đồng thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Tuy nhiên Tại phiên tòa hôm nay bà Trịnh Thị L12 rút kháng cáo và tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế của bà được hưởng cho ông Trịnh Văn H28 thấy đây là sự tự nguyện của bà L1 và phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà L13 án phí: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị B13 T9 làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay ông Trịnh Văn H22 bà Trịnh Thị L12 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, xét thấy việc rút yêu cầu kháng cáo của ông H3bà L1là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đó đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của ông H3bà L1
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Thị B4, Hội đồng xét xử xét thấy:
* Về quan hệ huyết thống: Các đương sự đều thống nhất xác nhận cụ Trịnh Văn D1(Chết ngày 13 tháng 7 năm 1981) và cụ Lê Thị L4(Chết ngày 24/5/ 2002). Khi sinh thời cụ D1và cụ L5có 06 người con là: Bà Trịnh Thị B4 Bà Trịnh Thị L1ông Trịnh Văn H29 (chết năm 2024) có vợ là bà Nguyễn Thị M7 các con là anh T10 Trịnh Thị V2 ông Trịnh Văn H11 ông Trịnh Văn T6 (Chết năm 1972) không có vợ con; bà Trịnh Thị X4( Chết năm 1973) không có chồng con. Ngoài ra cụ D1và cụ L4 không có người con nuôi, con riêng nào khác. Cụ D1 chết không để lại di chúc. Năm 2002 cụ L5chết có để lại di chúc.
* Về nguồn gốc di sản thừa kế của cụ T11: Xét thấy tại báo cáo số: 171/BC-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân phường Kcung cấp thông tin về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất ở, thửa đất ao, đất nông nghiệp còn lại như sau:
- Theo bản đồ Địa chính đo đạc năm 1985, sổ mục kê kiêm thống kê đất đai thể hiện:
Thửa 1: Thửa đất số 522, tờ bản đồ số 9, trang 35, diện tích 617,0 m², loại đất ao, đứng tên ông Tình Văn D3 kiểm tra, xác minh, rà soát của UBND phường quá trình lập sổ mục kê kiêm thống kê là có sai sót ghi "Tình Văn D2" nhưng trên thực tế theo sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân, giấy chứng tử tên đúng là "Trịnh Văn D1.
Thửa 2: Thửa đất số 534, tờ bản đồ số 9, trang 36, diện tích 1.040,0 m², loại đất T55, mục tên chủ sử dụng đất: không ghi tên ai sử dụng. Qua kiểm tra, xác minh, rà soát của UBND phường quá trình lập sổ mục kê kiêm thống kê mục tên chủ sử dụng đất: Không ghi tên ai sử dụng là có sai sót, trên thực tế và vị trí
thửa đất UBND phường Kxác định tên chủ sử dụng ruộng đất là của ông "Trịnh Văn D1.
Tổng diện tích 02 thửa đất là: 1.657,0 m² .
- Hệ thống bản đồ Địa chính xã Ktờ số 54 (2C-III-D-b) tỷ lệ 1/500 do đoàn đo đạc- Sở Địa chính tỉnh Hà Tây (cũ) đo vẽ lập tháng 6/1997, được UBND xã Kxác nhận ký tên đóng dấu ngày 12/6/2002, Sở địa chính tỉnh Hà Tây phê duyệt ký tên đóng dấu ngày 20/6/2002; Sổ mục kê kiêm thống kê đất đai, lập sổ theo số liệu đo đạc tháng 9 năm 1998, công nhận ký tên đóng dấu ngày 12/6/2002 của Chủ tịch UBND xã Kthể hiện:
Thửa 1: Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 54, trang 102, diện tích 1.170,2 m², loại đất T (đất ở), đứng tên chủ sử dụng ông Trịnh Văn H11( ông H3là con đẻ của ông Trịnh Văn S bà Lê Thị L4
Thửa 2: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 54, trang 102, diện tích 522,7m², loại đất T (đất ở), đứng tên chủ sử dụng ông Trịnh Văn H29( ông H con đẻ của ông Trịnh Văn S bà Lê Thị L4
Tổng diện tích 02 thửa đất là: 1.692,9 m²
- Theo ông (bà) Trịnh Văn HNguyễn Thị Mtrình bày và cung cấp phiếu thu số 13, ngày 08/01/2001 ông (bà) có nộp số tiền là 500.000 đồng, lý do nộp tiền: Tiền mua ao xóm thu nộp. Gia đình trình bày có nộp tiền mua đất ở trái thẩm quyền của thôn M mua thửa đất liền kề vị trí tại (thửa đất số 27, tờ bản đồ 54, diện tích 15,2 m², mục đích sử dụng đất rãnh, đứng tên người sử dụng: UBND xã).
- Theo xác minh làm rõ của UBND phường K1: Thửa đất số 25, tờ bản đồ 54, diện tích 199,7 m² theo bản đồ năm 1998 (là thửa đất liền kề với thửa đất rãnh số 27, tờ bản đồ 54) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 864652, số vào sổ cấp giấy: CH -00098, cấp ngày 01/4/2010, cơ quan cấp UBND quận H, đứng tên người sử dụng đất ông (bà) N6
- Diện tích đất nông nghiệp được giao năm 1993, theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ của hộ gia đình bà Lê Thị L4(Dĩ) theo định mức tiêu chuẩn: Lao động phụ là: 240 m²; lao động chính là: 540 m² gồm có nhân khẩu sau:
+. Bà Lê Thị N2 năm 1921 (đã chết 2002) là: Lao động phụ diện tích 240,0 m².
- Đất 5% theo theo tiêu chuẩn định mức là 36 m²/người: (nhân khẩu được nhà nước giao đất là những nhân khẩu có mặt tại thời điểm giao ruộng cuối năm
1959 đầu năm 1960) hộ gia đình bà Lê Thị N3 giao ở xứ đồng Chi Hín 5%, diện tích là 180,0m2, gồm có những nhân khẩu cụ thể sau:
- + Ông Trịnh Văn D1sinh năm 1923 (đã chết 1981);
- + Bà Lê Thị N4sinh năm 1921(đã chết 2002);
- + Ông Trịnh Văn T7 năm 1948 (đã chết 1972);
- + Bà Trịnh Thị L1sinh năm 1957, còn sống;
- + Bà Trịnh Thị X1sinh năm 1959 (đã chết 1973).
Cộng tổng diện tích đất được nhà nước giao là: 420,0 m².
+ Theo sổ Địa chính do UBND xã K ký tên đóng dấu ngày 01/9/1993, UBND thị xã Hngày 01/9/1993; Hộ bà Lê Thị L14 thứ tự 160, số trang 109, Quyển 04, Đội 4, thể hiện tổng diện tích đất nông nghiệp được giao năm 1993 là 420,0m², gồm các xứ đồng cụ thể:
- + Xứ đồng Mùa Cua diện tích: 126 m².
- + Xứ đồng Thòn Lòn diện tích: 114 m².
- + Xứ đồng Chi Hín diện tích: 180 m².
Theo Sổ thuế nông nghiệp hộ gia đình số 160 của hộ bà Lê Thị L4(Dĩ) - M, Kđược Chủ tịch UBND xã Kký tên đóng dấu lập ngày 25/11/1994, tổng diện tích đất nông nghiệp được giao là 420,0 m² gồm các thửa đất tại các xứ đồng: Mùa Cua 126,0 m²; Thòn Lòn 114,0m²; 5% 180m².
+ Theo sổ Bảng tổng hợp diện tích đất nông nghiệp còn lại của Đội 4 ngày 22/2/2020, hộ gia đình bà Lê Thị N4 Thứ tự 43, có tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại là: 241,1m².
+ Theo Sổ mục kê đất đai, quyển số 01 (Mđã được Giám đốc HTXDVTH Mậu Lương, UBND phường K ký ngày 02/12/2021 thể hiện tại: "Tờ bản đồ số 10, thửa số 268, diện tích 180,0m² xứ đồng Chi Hín 5%; Tờ bản đồ 16, thửa số 234C, diện tích 61,1m² xứ đồng Thòn Lòn, gia đình kê khai đứng tên hộ ông Trịnh Văn H30 nhà A, tổ dân phố A, phường K
Năm 1993 bà Lê Thị L15 tên hộ riêng nhận ruộng với T7diện tích là 420,0m², đến ngày 24/5/2002 bà Lê Thị L4(đã chết).
Từ năm tháng 6/2002 đến nay gia đình cử người đại diện là ông Trịnh Văn H13 lý ruộng canh tác và nộp sản phẩm cho HTX và các khâu dịch vụ của HTX.
Thực hiện Quyết định số 2618/QĐ-UBND ngày 21/7/2008 của UBND tỉnh Hvề việc thu hồi 161.371,5m2 đất tại xã K, thành phố H; giao Ban quản lý đầu tư xây dựng thành phố H thực hiện bồi thường hạ tầng giải phóng mặt bằng, lập dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu tái định cư K, thành phố H Quyết định số
2236/QĐ-UBND ngày 26/3/2009 của UBND thành phố H việc phê duyệt phương án kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất tái định cư KThuộc địa bàn Thôn M, xã K, thành phố H (thứ tự danh sách số 401, thu hồi 126,0 m², xứ đồng Mùa Cđứng tên ông Trịnh Văn H29
Thực hiện Quyết định số 3923/QĐ-UBND ngày 03/8/2009 của UBND thành phố H thu hồi 13.164,7 m² đất nông nghiệp thuộc giới hành chính phường K cho UBND quận H để thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường 18,5m vào Khu tái định cư KQuyết định số 4313/QĐ-UBND ngày 20/4/2010 của UBND quận H; v/v phê duyệt phương án, dự toán kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án: Đường 18,5m vào Khu tái định cư K thuộc Khu M, phường K, quận H (thứ tự danh sách số 28, thu hồi 52,9 m², xứ đồng Thòn Lòn, đứng tên ông Trịnh Văn H29
Thực hiện Kế hoạch của UBND phường K việc quy chủ diện tích đất nông nghiệp của các hộ gia đình bị thu hồi đất thực hiện các dự án. HTXNN Mậu Lương phối kết hợp với UBND phường, Ban giải phóng mặt bằng quận H, quy chủ diện tích 02 xứ đồng trên đứng tên ông Trịnh văn H29(với lý do gia đình cử đại diện ông Trịnh văn H31 bà Lê Thị N5(đã chết), tại thời điểm thu hồi đất và đến nay ông Trịnh văn H32 đang canh tác và quản lý diện tích đó) và thực hiện các quy trình bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định của Nhà nước.
- Thửa đất số 268, tờ bản đồ số 10, diện tích 180,0 m², xứ đồng Chi Hín 5%, đứng tên người kê khai là ông Trịnh Văn H33 trí thửa đất theo bản trích đo địa chính thửa đất số NN626/2022/HSKT (phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận QSD đất) do Công ty Cổ phần Đ1 được HTXDVTH Mậu Lương và UBND phường Kxác nhận ngày 26/4/2022, hiện tại thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
- Thửa đất số 234C, tờ bản đồ số 16, diện tích 61,1 m², xứ đồng Thòn Lòn, đứng tên người kê khai là ông Trịnh Văn H33 trí thửa đất theo bản trích đo địa chính thửa đất số NN625/2022/HSKT (phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận QSD đất) do Công ty Cổ phần Đ1 được HTXDVTH Mậu Lương và UBND phường Kxác nhận ngày 26/4/2022, hiện tại thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều xác nhận di sản thừa kế của cụ T12 lại là hiện chỉ còn lại diện tích đất tại thửa đất số 01 và thửa số 12, tờ bản đồ số 54 tại số nhà A, 111, 112, tổ dân phố số A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội và 61,1 m² đất nông nghiệp tại thửa đất số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng Thòn Lòn và 72m² đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng Chi Hín Quá trình quản lý sử dụng gia đình ông H15 ông H3đã xây dựng các công trình trên đất và xây tường bao quanh như hiện nay, các công
trình xây dựng này đều không cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng.
Theo biên bản xem xét thẩm định ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân thành phố Hà Nội thể hiện diện tích đo thực tế hai thửa đất số 01 và 12, tờ bản đồ số 54 trên có diện tích là 1.854,3 m² trong đó có 15,2 m² là của gia đình ông H34, nên sau khi trừ đi 15,2m2 đất gia đình ông H34, thì diện tích đất còn lại là 1.839,1m²
Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định 1.839,1 m² đất ở tại thửa số 01 và 12 tờ bản đồ số 54, tại địa chỉ số A 110, 111, 112 tổ dân phố số A, phường K, quận H, thành phố H 61,1 m² đất nông nghiệp tại thửa đất số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng Thòn Lòn và 72m² đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng Chi Hín là tài sản chung cuả vợ chồng cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L4.
Cụ Trịnh Văn D1(chết năm 1981) không để lại di chúc, nên phần di sản thừa kế của cụ D1đối với tài sản trên sẽ được chia theo pháp luật.
Cụ Lê Thị L4(chết năm 2002) có để lại di chúc. Xét di chúc của cụ Lê Thị L4 lập ngày 04/5/1991. Hội đồng xét xử xét thấy trước khi chết cụ L5có lập di chúc có nội dung:
- Phần nhà: Cho con út 3 gian nhà ngang tại phần nhà, đất trong nền nhà được phép hạ bằng mặt sân. Riêng tường hậu của nhà nếu chú H23 để lại làm tường rào thì tính ra gạch trả cho chú T6
- Phần đất sử dụng công bố như sau: Chú T6lấy từ rãnh nước cũ hất về phía Tây. Ghi chú: Lấy giữa rãnh làm tâm. Phần ngõ đi: Chú Tóđi ngõ phía sau nhà chú H( bớt lại từ tường hậu nhà cũ đang ở ra 0,50 m để mở cửa sổ và rãnh thoát nước. Ngõ ra ao đi chung. Hiện trạng cái cây cối thuộc phần đất nào thì phần đất đấy được hưởng.
- Phần ao: Nay chia ngang ao mỗi chú ½ ao ( bờ ao chạy dọc, phía của chú H24 được cây gì 2 anh em cùng hưởng, còn bờ ao của chú T6làm đường đi ra ao.
Xét thấy về hình thức di chúc phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên về nội dung: như phân tích ở trên thì toàn bộ diện tích đất trên thuộc tài sản chung của cụ D1và cụ L4, do vậy mỗi người có quyền định đoạt ½ khối tài sản trên. Nhưng khi lập di chúc ngày 04/5/1991 cụ L4 đã định đoạt vượt quá phần tài sản thuộc sở hữu của mình, do vậy di chúc ngày 04/5/1991 của cụ L5chỉ có hiệu lực 1 phần. Theo di chúc của cụ L5thì người được hưởng di sản theo di chúc của cụ L5gồm có: Ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H11
Từ các phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà B và chia di sản thừa kế của cụ D1theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
* Về thời điểm mở thừa kế và diện và hàng thừa kế: Xét thấy Cụ Trịnh Văn D1chết ngày 13/7/1981 không để lại di chúc, do vậy xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Trịnh Văn D4 ngày 13/7/1981.
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1gồm: C3( chết năm 2024) những người kế thừa quyền nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị M T10 ông Trịnh Văn H11
+ Cụ Lê Thị L5chết ngày 24/5/2002 có để lại di chúc cho ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H35 hưởng thừa kế toàn bộ nhà đất tại 02 thửa đất trên. Như phân tích ở trên thì việc lập di chúc của cụ L5chỉ có hiệu lực một phần, nên ông Trịnh Văn H29( chết năm 2024) những người kế thừa quyền nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị M Trịnh Văn H2anh T13 ông Trịnh Văn H36 được hưởng ½ diện tích đất trên thuộc quyền sở hữu của cụ L4
*Về phân chia di sản thừa kế cụ thể như sau: Xét thấy khi chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ D1thì những người hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1đều được hưởng phần di sản bằng nhau, tuy nhiên cần phải tính công sức duy trì tôn tạo của những người trực tiếp quản lý, sử dụng đất để đảm bảo quyền lợi của các bên. Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông H15 ông H3đã quản lý và sử dụng nhà đất từ năm 1998 đến nay và có công sức trong việc đổ đất, lấp ao, tôn tạo, xây dựng công trình nhà ở, ngõ đi trên đất như hiện nay. Như vậy, ông H và ông H3có công sức trong việc quản lý, duy trì tôn tạo di sản thừa kế. Tuy nhiên quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm này các đương sự đều xác nhận sau khi san lấp ao thì gia đình ông H10 H3cũng đã xây dựng các dãy nhà trọ trên phần diện tích đất như hiện nay để cho sinh viên thuê và tiền thuê nhà này thì gia đình ông H3ông Hthu toàn bộ và sử dụng, nên xác thấy các ông cũng đã được thu lợi nhuận từ việc tôn tạo này, do đó trích công sức duy trì, tôn tạo di sản thừa kế cho ông H15 ông H3mỗi người 20m2.
Ngoài ra, tại phiên tòa các đương sự đều xác nhận trên phần đất này đã hình thành phần ngõ đi chung như hiện nay từ năm 1992, nên khi chia thừa kế cần phải giành 1 phần đất làm ngõ đi chung như hiện nay cho các gia đình. Ngoài ra các đương sự còn xác nhận quá trình quản lý sử dụng vợ chồng ông H có mua thêm 15,2m2 đất của Hợp tác xã.
Về giá trị di sản thừa kế: xét thấy theo biên bản định giá ngày 27/9/2022, của Tòa án nhân dân quận H thì giá trị quyền sử dụng đất ở là 35.000.000 đồng/m²; đất nông nghiệp là 252.000 đồng/m².
Như vậy giá trị di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D2 cụ Nguyễn Thị L16 lại là:
+ Đối với đất ở là: 1.839,1m2 x 35.000.000 đồng/m2 = 64.368.500.000 đồng.
+ Đối với đất nông nghiệp và đất 5% là: 61,1m2 + 72m2 x 252.000đ/m2 =33.541.200 đồng.
*Chia thừa kế cụ thể:
+ Đối với đất ở: Như phân tích ở trên xác định tài sản chung của cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L4 là quyền sử dụng đất tại thửa số 01 và thửa số 12, tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ số nhà A, tổ dân phố số A, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội có diện tích là 1.839,1m² . Sau khi trừ phần diện tích ngõ đi chung theo số đo thực tế là 105,9m2 thì diện tích đất còn lại là: 1.839,1m2 – 105,9m2 = 1.733,2m2. Chia tài sản chung của vợ chồng cụ D1và cụ L4 mỗi người được ½ diện tích đất trên cụ thể: 1.733,2m2 : 2 = 866,6m2.
Xác định cụ Trịnh Văn D5 không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ để lại là 866,6m2 đất trên của cụ D1 được chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trịnh Văn D6: cụ C3 ( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10; ông Trịnh Văn H11 và chia bằng hiện vật cho các thừa kế. Tuy nhiên trước khi chia cần phải trích công sức duy trì tôn tạo cho gia đình ông H, ông H3như đã phân tích ở trên cụ thể mỗi gia đình được 20m2 đất. Do vậy sau khi trừ đi diện tích đất trích công sức cho gia đình ông H10 H3thì di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D7 lại là: 866,6m2 - 40m2 = 826,6m2. Cụ thể mỗi kỷ phần được hưởng di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D1 được hưởng là: 826,6m2: 5 = 165,32 m² .
Phần di sản thừa kế của cụ L5để lại gồm: Phần tài sản trong khối tài sản chung với cụ D1( 50% ) + phần thừa kế cụ L5được hưởng của cụ D1( 1/5 ). Cụ thể là: 866,6m m² + 165,32 m² = 1.031,92 m² . Phần di sản này của cụ L5 đã được cụ L5lập di chúc để lại cho ông H15 ông H11. Cụ thể ông H3và ông H (chết năm 2023) những người kế thừa quyền nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị M Trịnh Văn H2anh Trịnh Văn H1chị Trịnh Thị V2 mỗi bên được hưởng là: 1.031,92m2 : 2 = 515,96m²
Cụ thể:
- - Ông Trịnh Văn H11 được hưởng di sản thừa kế của cụ D1 cụ L4 là: 515,96 m² + 20 m² + 165,32 m² = 701,28 m² có giá trị sử dụng là: 701,28 m² x 35.000.000 đồng/m2 = 24.544.800.000 đồng.
- Ông Trịnh Văn H29( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị M T10 A2được hưởng di sản thừa kế của cụ D1cụ L5 và phần diện tích đất của gia đình mua là: 515,96 m² + 20 m² + 15,2 m²+ 165,32m² = 716,48 m² có giá trị sử dụng là: 716,48m² x 35.000.000đồng/m2 = 25.076.800.000 đồng.
- - Bà Trịnh Thị B14 hưởng di sản thừa kế của cụ D1 là: 165,32 m² có giá trị sử dụng là: 165,32 m² x 35.000.000 đồng = 5.786.200.000 đồng.
- Bà Trịnh Thị L17 hưởng di sản thừa kế của cụ D1 là:165,32 m² có giá trị sử dụng là: 165,32 m² x 35.000.000 đồng = 5.786.200.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà L1tặng cho ông H3toàn bộ kỷ phần thừa kế bà được hưởng.
* Chia bằng hiện vật đối với đất ở như sau: Xét thấy các hàng thừa kế của cụ T14 đã có chỗ ở ổn định. Tuy nhiên các đương sự đều có nguyện vọng xin được hưởng kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ thấy phần diện tích đất của Cụ D1cụ L5để lại rất lớn và qua xem xét thực tế thấy có cơ sở để chia bằng hiện vật cho các bên. Tòa án cấp sơ thẩm sơ thẩm đã chia bằng hiện vật cho các bên đương sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng việc Tòa án cấp sơ thẩm phân định vị trí cho các đồng thừa kế chưa hợp lý, nên xét thấy để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự do đó cần phải sửa án sơ thẩm về phần này. Cụ thể chia như sau:
- + Dành 01 phần diện tích đất làm ngõ đi chung cho những người thừa kế có diện tích là 105,9 m 2 được giới hạn bởi các điểm: 3,4,5,6,7,40,39,38,9,10,37,36,35,34,33,32,31,30,29,3. ( Có sơ đồ kèm theo).
- + Ông Trịnh Văn H29 ( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị M T10 A2được quyền quản lý sử dụng, sở hữu diện tích: 716,48m² ( Trong đó bao gồm phần di sản ông được hưởng của cụ D1, cụ L4 công sức tôn tạo và phần diện tích gia đình ông mua) được giới hạn bởi các điểm 1,2,329,30,31,31,33,24,25,26,27,28,1 và các điểm 10,11,12,13,14,15,37,10. ( Có sơ đồ kèm theo).
- + Ông Trịnh Văn H35 quyền quản lý sử dụng, sở hữu diện tích là: 866,6m² ( Trong đó bao gồm phần di sản ông được hưởng của cụ D1cụ L5Công sức tôn tạo và kỷ phần của bà Licho) được giới hạn bởi các điểm 17,18,19,20,21,22,23,24,33,34,35,36',17 và 7,8,9,38,39,40,7. ( Có sơ đồ kèm theo).
- + Bà Trịnh Thị B14 quyền quản lý sử dụng và sở hữu diện tích là 165,32 m² được giới hạn bởi các điểm 36',36,37,15,16,17,36'. ( Có sơ đồ kèm theo).
* Đối với đất nông nghiệp:
Xác nhận di sản của cụ T12 lại là 72 m² đất 5% tại thửa đất số 268, tờ bản đồ số 10 tại xứ đồng Chi Hín và 61,1 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16 tại xứ đồng Thòn Lòn. Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều xác nhận các diện tích đất này hiện gia đình ông H3ông Hđang quản lý sử dụng.
Chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Dlcụ L5gồm: Bà Trịnh Thị B13 Trịnh Thị Llông Trịnh Văn H29( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10 người được hưởng là 18 m² đất 5% tại xứ đồng Chi Hín và mỗi người được hưởng 15,275 m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Thòn Lòn.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trịnh Thị L18 cho kỷ phần của bà được hưởng cho ông Trịnh Văn H11
Cụ thể:
- - Ông Trịnh Văn H35 sử dụng diện tích 36 m² đất 5% tại tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10 xứ đồng Chi Hín, M, phường K, quận H, thành phố H 30,55 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16 xứ đồng Thòn Lòn. Có giá trị sử dụng là: (36m2 + 30,55m2) x 252.000 đồng/m2 =7.698.600 đồng.
- -Ông Trịnh Văn H29( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10 A2được sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại thửa 268, tờ bản đồ số 10 xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16 xứ đồng Thòn Lòn, có giá trị sử dụng là: (18 m² + 15,275 m² ) x 252.000 đồng/m² = 8.385.300 đồng.
- -Bà Trịnh Thị B14 sở hữu và sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10 xứ đồng Chi Hín và 15,275 m² đất nông nghiệp tại thửa 234C, tờ bản đồ số 10 xứ đồng Thòn Lòn, có giá trị sử dụng là: (18 m² + 15,275 m² ) x 252.000 đồng/m²= 8.385.300 đồng.
* Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà B6 thanh toán các khoản chi phí gồm chi phí cho việc đo vẽ 02 thửa đất, xem xét thẩm định và định giá tài sản tổng cộng là 15.000.000 đồng và tại cấp phúc thẩm bà B15 10.000.000 đồng. Tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Do vậy ông H do những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà M Hlanh H2, chị V3 A2 ông H3và bà L1mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán trả cho bà B16 tiền chi phí tố tụng là 6.250.000 đồng.
Từ những phân tích trên xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Thị B17 cần phải sửa án sơ thẩm như phân tích ở trên.
Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phù hợp một phần với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên được chấp nhận một phần.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.
* Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 254; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 624; Điều 627; Điều 628; Điều 630; Điều 643; Điều 649; Điều 650; Điều 651 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Sửa bản án sơ thẩm số 180/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.
Xử:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Văn H22 bà Trịnh Thị L19
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị B18 với ông Trịnh Văn H15 ông Trịnh Văn H37 việc chia thừa kế tài sản đối với di sản của cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L4
- Xác nhận cụ Trịnh Văn D1( chết năm 1981), cụ Lê Thị L4( chết năm 2002). Hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1cụ L5gồm: Bà Trịnh Thị B13 Trịnh Thị L1ông Trịnh Văn H29( Chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là: bà Nguyễn Thị M T15( chết năm 1972) không có vợ con; bà Trịnh Thị X4( chết năm 1973) không có chồng con.
- Xác nhận di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L8 lại là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 01 và thửa đất số 12, tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ số 108,109, 110, 111,112 tổ dân phố số A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi trừ đi diện tích ngõ đi chung và diện tích đất do gia đình ông H34 thì di sản thừa kế của cụ D1cụ L5để lại là: 1.733,2m2 đất ở và 72m2 đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng C, M, phường K, thành phố H đồng Chi Hín; 61,1m2 đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng T, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội xứ đồng Thòn Lòn.
- Chia tài sản chung của vợ chồng cụ Trịnh Văn D1 cụ Lê Thị L5mỗi người được ½ diện tích đất trên, cụ thể mỗi người được 866,6m2.
- Xác nhận thời điểm mở thừa kế của cụ Trịnh Văn D4 năm 1981 và cụ D1không để lại di chúc, di sản thừa kế của cụ D1được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trịnh Văn D1gồm cụ C3 ( chết
- 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M Trịnh Văn H2anh T16 người được hưởng di sản thừa kế của cụ D1là 165,32 m² .
- + Xác nhận thời điểm mở thừa kế của cụ Lê Thị L20 năm 2002, cụ L5có để lại di chúc cho ông Trịnh Văn Hvà Trịnh Văn H26 di sản thừa kế của cụ Lê Thị L8 lại gồm: Phần tài sản trong khối tài sản chung với cụ D1và phần thừa kế cụ L5được hưởng của cụ D1 là: 1.031,92 m² . Phần di sản này của cụ L5được chia cho ông H15 ông H11, cụ thể mỗi người được ½ là: 515,96m²
- 7. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trịnh Thị L18 cho ông Trịnh Văn H38 bộ kỷ phần thừa kế bà được hưởng của cụ Trịnh Văn D1.
- 8. Chia bằng hiện vật cụ thể như sau:
- + Dành 01 phần diện tích đất làm ngõ đi chung cho những người thừa kế có diện tích đất là 105,9 m² được giới hạn bởi các điểm: 3,4,5,6,7,40,39,38,9,10,37,36,35,34,33,32,31,30,29,3. ( Có sơ đồ kèm theo).
- + Ông Trịnh Văn H29 ( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10 được quyền quản lý sử dụng, sở hữu đối với phần di sản của cụ Trịnh Văn D2 cụ Lê Thị L21 công sức tôn tạo của gia đình ông H và phần diện tích đất do gia đình ông H34 của Hợp tác xã có diện tích đất là: 716,48m² được giới hạn bởi các điểm 1,2,329,30,31,31,33,24,25,26,27,28,1 và các điểm 10,11,12,13,14,15,37,10. ( Có sơ đồ kèm theo). Có giá trị sử dụng là: 25.076.800.000 đồng.
- + Ông Trịnh Văn H35 quyền quản lý sử dụng, sở hữu đối với phần di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D1 cụ Lê Thị L22 sức tôn tạo của gia đình ông H3và kỷ phần thừa kế của bà L1tặng cho ông H3có diện tích đất là: 866,6m² được giới hạn bởi các điểm 17,18,19,20,21,22,23,24,33,34,35,36',17 và 7,8,9,38,39,40,7. ( Có sơ đồ kèm theo). Có giá trị sử dụng là: 30.331.000.000 đồng.
- + Bà Trịnh Thị B14 quyền quản lý sử dụng, sở hữu phần di sản thừa kế của cụ Trịnh Văn D8 diện tích đất là: 165,3 2 m 2 được giới hạn bởi các điểm 36',36,37,15,16,17,36' ( Có sơ đồ kèm theo). Có giá trị sử dụng là: 5.786.200.000 đồng.
8. Đối với đất 5% và đất Nông nghiệp:
- Ông Trịnh Văn H35 sử dụng diện tích 36 m² đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng C, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội và 30,55 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng T, M phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Có giá trị sử dụng là:7.698.600 đồng.
- Ông Trịnh Văn H29 ( chết năm 2024) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10 được sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng C, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội và
15,275 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng T, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Có giá trị sử dụng là: 3.849.300 đồng.
- - Bà Trịnh Thị B14 sử dụng diện tích 18 m² đất 5% tại thửa số 268, tờ bản đồ số 10, tại xứ đồng C, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội và 15,275 m² đất nông nghiệp tại thửa số 234C, tờ bản đồ số 16, tại xứ đồng T, M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội Có giá trị sử dụng là: 3.849.300 đồng.
Tại phần diện tích bà Trịnh Thị B4 được chia nếu có công trình xây dựng hoặc cây trồng của gia đình ông H ông H11 thì gia đình ông H, ông H11 phải phá dỡ, chặt bỏ hoặc di dời đi nơi khác để bàn giao trả lại diện tích đất cho bà B. Bà B19 phải thanh toán giá trị tài sản xây dựng công trình và cây cối trên đất cho gia đình ông H, ông H11
Các bên có quyền xây tường ngăn riêng biệt phần diện tích đất mà mình được chia, phí tổn xây dựng của bên nào thì bên đó phải tự chịu.
Các đương sự có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
9. Về chi phí tố tụng: Ông Trịnh Văn H29 do người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T15 A2ông H3 bà L1mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán trả cho bà B16 tiền chi phí tố tụng là 6.250.000 đồng.
10. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho bà B13 Llông H do người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị M T10 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trịnh Văn H39 chịu 138.338.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Bà Trịnh Thị B19 phải chịu án phí phúc thẩm
Sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí của ông Trịnh Văn H40 nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014873 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGÔ TUYẾT BĂNG. |
Các thẩm phán
Trần Thị Liên Anh Nguyễn Thị H41 H13Ngô Tuyết B3
Bản án số 685/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế
- Số bản án: 685/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp chia thừa kế giữa nguyên đơn Trịnh Thị B và bị đơn Trịnh Văn H, Trịnh Văn H1
