|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 683/2025/DS-PT Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp đòi lại tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu |
| Các Thẩm phán: | : Bà Phạm Thị Kim |
| : Bà Nguyễn Thị Kim Cương. |
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 và ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2025/TLPT-DS, ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 159/2025/DS-ST ngày 13-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2393/2025/QĐ-PT ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 7262/2025/QĐ-PT ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
-
Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Minh X, sinh năm 1980.Địa chỉ:7 đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1970 - Đại diện(Có mặt).
Địa chỉ: 2 L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền ngày 23/4/2025).
-
Bị đơn:
Bà Lý Thị Thu T1, sinh năm 1983.Địa chỉ: F, tổ A, ấp F, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1999 - Đại diện(Có mặt).
Địa chỉ liên lạc:A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền ngày 24/4/2025).
Người Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hoàng Anh S – V Luật sư Hoàng Anh S - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Phước T2, sinh năm 1975;
Địa chỉ: 7 đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1970 - Đại diện (Có mặt).
Địa chỉ: 2 L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền ngày 23/4/2025).
-
Bà Hoàng Thị Tuyết L, sinh năm 1964.
Địa chỉ: B B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1970 - Đại diện (Có mặt).
Địa chỉ: 2 L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền ngày 15/5/2025).
-
-
Người kháng cáo:
Bà Lý Thị Thu T1 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, sự việc được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh X có ông Chu Văn D đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 17/03/2022 bà Nguyễn Thị Minh X được bà Hoàng Thị Tuyết L giới thiệu bà Lý Thị Thu T1 là người kinh doanh, cung cấp, mua bán vải. Do có nhu cầu mua vải nên bà X liên hệ gặp bà T1 để thỏa thuận mua vải. Cùng ngày, bà X và chồng là ông Nguyễn Phước T2 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh S1 chuyển khoản số tiền 2.450.000.000 đồng(Hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng) vào tài khoản của bà T1 số: 0071000973965. Ngày 12/08/2022 bà X và ông T2 tiếp tục chuyển cho bà T1 2.650.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Tại thời điểm này, bà X và ông T2 có yêu cầu bà T1 giao hàng nhưng bà T1 lấy lý do hàng chưa đủ để giao, đồng thời bà T1 đưa cho bà X và ông T2 giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh của bà T1 để chứng minh khả năng giao hàng. Ngày 28/12/2022, bà X và ông T2 chuyển cho bà T1 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng). Tổng cộng là 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng).
Sau khi nhận tiền và giao Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh thì bà T1 không giao vải như đã cam kết mà hứa trả lại tiền cho bà X và ông T2. Do vậy, bà X khởi kiện bà T1, yêu cầu bà T1 phải có nghĩa vụ trả lại số tiền mà bà X đã chuyển cho bà T1 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng).
Bị đơn bà Lý Thị Thu T1 có ông Lữ Minh C đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Lý Thị Thu T1 và bà Nguyễn Thị Minh X không quen biết nhau. Về số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) bà T1 không vay mượn của bà X, mà số tiền trên do bà L nhờ bà nhận tiền chuyển khoản từ bà X giao lại cho bà L cũng như chuyển khoản lại cho người khác do bà L chỉ định. Theo đó, ngày 17/3/2022, bà X chuyển khoản cho bà T1 số tiền 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), sau đó, bà T1 chuyển khoản lại cho bà L 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng), số tiền còn lại bà T1 giao tiền mặt cho bà T1, khi giao tiền mặt này thì hai bên không làm giấy giao nhận. Ngày 12/8/2022, bà X chuyển cho bà T1 nhận 2.650.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền này, bà L chỉ định cho bà T1 chuyển lại cho bà Lê Thị T3. Ngày 28/12/2022, bà X chuyển cho bà T1 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), số tiền này thì bà L chỉ định cho bà T1 chuyển lại cho Nguyễn Thị Thanh T4, thông qua Ngân hàng nào thì bà không nhớ. Nay, qua yêu cầu của bà X thì bà T1 không đồng ý trả lại số tiền nêu trên, vì bà T1 không nhận và vay mượn tiền của bà X.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước Thành ủy Q ông Chu Văn D đại diện trình bày: Ông T2 thống nhất với ý kiến trình bày của bà X.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Tuyết L ủy quyền ông Chu Văn D đại diện trình bày: Vào khoảng năm 2021, trong thời gian tìm nhà, đất ở huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để mua thì bà L có quen biết với bà T1 và được bà T1 cho biết là bà T1 có cơ sở kinh doanh, cung cấp, mua bán vải nên bà L có giới thiệu bà T1 cho bà X để hai bên mua, bán vải. Sau đó, giữa bà X và bà T1 hai bên có mua, bán nhà, đất, chuyển tiền qua lại với nhau thì không liên quan đến bà L.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 159/2025/DS-ST ngày 13-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh X.
Buộc bà Lý Thị Thu T1 thanh toán cho bà Nguyễn Thị Minh X số tiền là 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và quy định về Thi hành án.
Ngày 26/3/2025, bà Lý Thị Thu T1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Lý Thị Thu T1 và bà Nguyễn Thị Tuyết M đại diện theo ủy quyền của bà T1 kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm, vi phạm thủ tục tố tụng, với lý do:Trong vụ án này, giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Tuyết L đối lập quyền lợi, do bà L có nghĩa vụ đối với bà X nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận cho ông Chu Xuân D1 đại diện cho bà X và bà L tham gia tố tụng.
Tòa án cấp sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà X, buộc bị đơn bà T1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) cho bà X là không đúng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh X (có bà Nguyễn Thị Bích T5 đại diện theo ủy quyền) không đồng ý kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phước T2 và bà Hoàng Thị Tuyết L ủy quyền bà Trần Thị Bích T không đồng ý kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu - đề nghị:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương sự chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:Tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T1.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà X đồng ý trả lại cho bà T1 bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số:41N8155204, đăng ký lần đầu ngày 29/9/2022, tên hộ kinh doanh: Hộ Kinh doanh Lý Thị Thu T1.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Bà Nguyễn Thị Minh X, ông Nguyễn Phước T2 và bà Hoàng Thị Tuyết L ủy quyền bà Nguyễn Thị Bích T5; Bà Lý Thị Thu T1 ủy quyền bà Nguyễn Thị Tuyết M, việc ủy quyền này, phù hợp với Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hoàng Anh S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2,3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
-
Bị đơn bà Lý Thị Thu T1 kháng cáo, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm, vi phạm thủ tục tố tụng, vì giữa bà X và bà L đối lập quyền lợi, bà L có nghĩa vụ đối với bà X nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận cho ông D1 đại diện cho bà X và bà L tham gia tố tụng.
-
Tại đơn khởi kiện ngày 30/10/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh X khởi kiện bị đơn bà Lý Thị Thu T1, yêu cầu bà T1 phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) bà X đã chuyển cho bà T1 vào năm 2022 mà không có yêu cầu gì đối với bà L. Bị đơn bà T1 cũng không có yêu cầu phản tố và không có yêu cầu bà L phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với bà X. Như vậy, giữa bà X và bà L không có đối lập quyền lợi và bà L cũng không có nghĩa vụ gì đối với bà X, do đó, việc bà X và bà L ủy quyền cho ông Chu Xuân D1 đại diện bà X và bà L tham gia tố tụng là đúng quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà T1.
-
Bị đơn bà T1 kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà X, buộc bà phải có trách nhiệm trả lại số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) cho bà X là không đúng.
-
Tại các Phiếu ủy nhiệm chi ngày 17/03/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh S1, có nội dung, như sau: “Tên TK trích nợ: Nguyễn Thị Minh X, Nguyễn Phước T2. Số TK trích nợ: 14082001021784. Số bằng tiền: 2.450.000.000 VNĐ. Số tiền bằng chữ: Hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng. Nội dung: TT tiền mua vải cho bà Thu T1. Người thụ hưởng: Lý Thị Thu T1. Số TK: 0071000973965.”; Phiếu ủy nhiệm chi ngày 12/8/2022, có nội dung: “Nguyễn Thị Minh X, Nguyễn Phước T2. Số TK trích nợ: 14082001021784. Số bằng tiền: 2.650.000.000 VNĐ. Số tiền bằng chữ: Hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng. Nội dung: TT tiền mua vải cho bà Lý Thị Thu T1. Người thụ hưởng: Lý Thị Thu T1. Số TK: 0071000973965.”; Và Phiếu ủy nhiệm chi ngày 28/12/2022, có nội dung:“ Nguyễn Thị Minh X, Nguyễn Phước T2. Số TK trích nợ: 14082001021784. Số bằng tiền: 2.500.000.000 VNĐ. Số tiền bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng, Nội dung: Thanh toán tiền mua vải cho bà Lý Thị Thu T1. Người thụ hưởng: Lý Thị Thu T1. Số TK: 0071000973965".
-
Xét, căn cứ vào sự thừa nhận của nguyên đơn bà X, bị đơn bà T1 cũng như các Phiếu Ủy nhiệm chi nêu tại mục [6], có cơ sở xác định ngày 17/03/2022, bà X và ông T2 chuyển khoản số tiền 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bốn năm năm mươi triệu đồng) vào số tài khoản của bà T1 là số 0071000973965; Ngày 12/8/2022, bà X, ông T2 chuyển cho bà T1 số tiền 2.650.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) và ngày 28/12/2022 bà X, ông T2 chuyển cho bà T1 số tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng). Tổng cộng, bà X và ông T2 chuyển khoản cho bà T1 là 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng), do bà T1 chưa trả lại số tiền nêu trên cho bà X, do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm, buộc bị đơn bà T1 phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn bà X số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) là có căn cứ.
- Bà T1 khai trước đây, bà có vay tiền của bà L 6.500.000.000 đồng (Sáu tỷ năm trăm triệu đồng), bà có thế chấp căn nhà của bà cho bà L, hiện số nợ này, bà chưa trả cho bà L, do vậy, khi bà L nhờ bà nhận tiền chuyển khoản từ bà X thì bà cũng đồng ý nhận dùm cho bà L, với tổng cộng số tiền bà X chuyển cho bà là 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng). Sau khi nhận số tiền nêu trên từ bà X, thì bà L yêu cầu bà chuyển lại cho bà L 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng) và số tiền còn lại đưa tiền mặt cho bà L; Còn đối với khoản tiền 2.650.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) thì bà chuyển lại cho bà Lê Thị Thanh X1 và khoản tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) thì bà chuyển lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T4 theo yêu cầu của bà L. Khi chuyển tất cả khoản tiền nêu trên cho bà L, bà Lê Thị Thanh X1 và bà T4 thì bà không ghi nội dung chuyển tiền và cũng không lập Biên bản giao nhận. Xét thấy, khai nhận này không được bà L thừa nhận, bà T1 lại không có chứng cứ chứng minh lời khai của mình; Mặt khác, trong vụ án này, phía bà T1 không có yêu cầu bà L, bà T4 và bà Thanh X1 phải trả lại các khoản tiền nêu trên nên Tòa án cấp sơ thẩm, không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Nếu sau này, bà T1 có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo đúng quy định của pháp luật; Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T1.
-
Trong quá trình thu thập chứng cứ ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà X1 khai, khi chuyển số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) cho bị đơn thì bị đơn có đưa cho nguyên đơn giữ Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số:41N8155204, đăng ký lần đầu ngày 29/9/2022, tên hộ kinh doanh: Hộ Kinh doanh Lý Thị Thu T1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số:41N8155204 nêu trên, do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận.
-
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lý Thị Thu T1 là không có cơ sở chấp nhận; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng như đã nêu tại mục [8].
Xét, đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà T1 là có cơ sở nên được chấp nhận.
-
Các nội dung khác, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bà Lý Thị Thu T1 không phải chịu nên hoàn lại cho bà T1 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-
Căn cứ Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;
-
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lý Thị Thu T1.
-
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 159/2025/DS-ST ngày 13-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh X.
-
Buộc bà Lý Thị Thu T1 phải có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh X số tiền 7.600.000.000 đồng (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
-
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Minh X trả lại Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số:41N8155204, đăng ký lần đầu ngày 29/9/2022, tên hộ kinh doanh: Hộ Kinh doanh Lý Thị Thu T1.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm là:115.600.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm ngàn đồng) do bà Lý Thị Thu T1 chịu.
Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Minh X số tiền tạm ứng án phí tạm nộp là 57.800.000 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0051156 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lý Thị Thu T1 không phải chịu.
Hoàn lại cho bà Lý Thị Thu T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0052186 ngày 28/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |
Bản án số 683/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 683/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản
