TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 681/2024/DSPT Ngày: 31/7/2024 Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền
2. Bà Đỗ Thị Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Mai Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số 809/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3875/2024/QĐPT-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phong Tú H, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Giang Chí D, sinh năm: 1973; (vắng mặt).
Địa chỉ: Số E M, Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền số công chứng 002894 quyển số 3/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/3/2022 tại Văn phòng C1).
2. Bị đơn: Bà Quách Sở V, sinh năm: 1961;
Ông Trương Lý T, sinh năm: 1945;
Cùng địa chỉ: Số F đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Ông Trương Quân H1, sinh năm: 1993 (Có mặt);
- Địa chỉ: Số F đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Lê Kỳ D1, sinh năm: 2000 (Có mặt);
- Bà Ngô Kim N, sinh năm 2000; (có đơn xin vắng mặt).
- Địa chỉ: Lầu I, số A đường H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền số công chứng 00672, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 26/01/2024 tại Văn phòng C2)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Quách Sở V: Ông Lê Trạch G; Địa chỉ: Số B đường S, KCN T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản tự khai của các bên đương sự tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Ông Giang Chí D là đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 01 tháng 9 năm 2009, do quen biết và tin tưởng nên bà H có cho bà Q Sở Văn mượn 100 lượng vàng SJC (một trăm lượng vàng SJC) không tính lãi suất và thời hạn trả nợ vay. Hai bên thỏa thuận ngay khi ông Trương Thịnh N1 (là bạn thân của ông Trương Kính M) cùng Công ty TNHH T2 do (ông) Đỗ Hữu C làm đại diện theo pháp luật mỗi bên nhận được 50% trị giá của số tiền huê hồng 722 Lượng SJC (bảy trăm hai mươi hai lượng vàng SJC) do cùng nhau giới thiệu cho Công ty TNHH T3 do ông Trương Kính M làm Chủ tịch HĐTV mua được thửa đất địa chỉ: 9 T, phường E, quận E theo Hợp đồng dịch vụ ký ngày 01 tháng 9 năm 2009 thì (ông) Trương Thịnh N1 sẽ giúp (bà) Quách Sở Văn hoàn trả đủ cho bà H hoặc ngay khi (bà) Quách Sở V nhận được tiền đặt cọc bán thửa đất tại Ấp E, xã H, huyện B của chủ quyền số X 183296, Số W 512943, Số W 608163 thì lập tức (bà) Quách Sở Văn phải hoàn trả đủ cho bà H số tiền 100L SJC cùng với chi phí là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) về việc xin chuyển mục đích lên đất ở cho 300m2 thuộc Ấp E, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay bà H được biết bà Quách Sở V đã chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên nhưng khi bà H liên hệ thì bà V không đồng ý trả số nợ trên.
Nay bà H yêu cầu bà Quách Sở V phải trả số vàng đã vay là 100 lượng vàng SJC theo giá hiện tại là 6.780.000.000 (sáu tỷ bảy trăm tám mươi triệu) đồng, không yêu cầu lãi suất. Do các bên có mối quan hệ với nhau từ hợp đồng dịch vụ nên mới quen biết nhau và phát sinh việc vay mượn 100 lượng vàng SJC theo Giấy mượn tiền ngày 01/9/2009, nên nội dung Giấy mượn tiền có các thông tin liên quan đến hợp đồng dịch vụ. Do đó, bà Phong Tú H khởi kiện yêu cầu bà Quách Sở V phải trả số vàng đã vay. Tranh chấp không liên quan đến hợp đồng dịch vụ và không liên quan đến Công ty T2. Số tiền cho vay là tài sản riêng của bà, không liên quan gì đến chồng bà là ông Đỗ Hữu C. Đối với ông Trương Kính M là chỗ quen biết lúc các bên ký hợp đồng dịch vụ môi giới chứ ông M không liên quan gì đến vụ án này. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án không đưa ông Trương Kính M, ông Đỗ Hữu C vào tham gia tố tụng.
Bị đơn bà Quách Sở V có ông Trương Quân H1 là đại diện theo ủy quyền trình bày: Không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Tại biên bản hòa giải ngày 29/8/2023, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: “Theo nội dung Giấy mượn tiền ngày 01/9/2009 "...ngay sau khi nhận được tiền đặt cọc bán thửa đất tại ấp E, xã H, huyện B của chủ quyền số X183296, số W512943, số W60813 thì lập tức tôi hoàn trả đủ cho bà Tú H số tiền trên cùng với chi phí là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) về việc xin chuyển mục đích lên đất ở...”, nhưng vào ngày 03/6/2023 bà V đã hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, vì vậy không thể trả số nợ trên cho bà H được”. Bà V khẳng định không có việc vay mượn nợ, trước giờ chỉ giao dịch với ông C là đại diện hợp pháp của Công ty T2 về việc thực hiện dịch vụ làm giấy tờ nhà đất cho bà V và bà H là người được Công ty T2 yêu cầu bà V ủy quyền để thực hiện giao dịch, bà V chưa gặp mặt bà H và cũng không có việc vay mượn vàng hay tiền của bà H như trên. Nay bà V yêu cầu Tòa án bác yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn ông Trương Lý T có ông Trương Quân H1 là đại diện ủy quyền trình bày: Ông T thống nhất với lời trình bày của bà V, ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra ông không có ý kiến gì khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 809/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phong Tú H đối với bà Quách Sở V.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà P Tú Hiền đối với ông Trương Thịnh N1 (Trương Lý T).
Buộc bà Quách Sở V có trách nhiệm trả cho bà P Tú Hiền 100 lượng vàng SJC tương đương với số tiền là 6.815.000.000 (sáu tỷ tám trăm mười lăm triệu) đồng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thanh toán đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/10/2023, bị đơn bà Quách Sở V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, ngày 30/7/2024 nguyên đơn bà Phong Tú H có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn bà Quách Sở V có người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Quân H1 và bà Nguyễn Lê Kỳ D1 không đồng ý việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện. Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn bà Quách Sở V có người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Quân H1, bà Nguyễn Lê Kỳ D1 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì theo kết luận giám định thì chữ ký tại Giấy mượn tiền ngày 01/9/2009 không phải là của bà V.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.
- Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự thấy rằng: Căn cứ đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định của bà Nguyễn Lê Kỳ D1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn trong vụ án. Ngày 31/01/2024 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 1390/2024/QĐ-TCGĐ v/v yêu cầu giám định chữ ký trong vụ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tòa án trưng cầu giám định chữ ký trên tài liệu liên quan và ngày 18/3/2024 Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kết luận giám định số 1302/KL-KTHS theo đó kết luận: “Chữ ký đứng tên Quách Sở Văn dưới mục "Bên vay tiền" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Quách Sở Văn trên các tài liệu mâu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 là không phải do cùng một người ký ra”.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giám định lại.
Ngày 27/5/2024 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định trưng cầu giám định lại số 7080/2024/QĐ-TCGĐ về việc giám định lại tài liệu.
Ngày 15/7/2024 V1 Bộ C3 có kết luận giám định số 203/KL-KTHS, theo đó kết luận: “Chữ ký đứng tên Quách Sở Văn dưới mẫu cần giám định A so với chữ ký của Quách Sở Văn trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M8 là không phải do cùng một người ký ra”.
Như vậy, có cơ sở xác định giấy vay tiền ngày 01/09/2009 tại mục Bên vay tiền không phải là chữ ký của bà Quách Sở V. Do đó, không có việc vay mượn tiền là 100L vàng SJC giữa bà H và bà V tại Giấy mượn tiền nêu trên, nên kháng cáo của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích, đề nghị Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm như nhận định trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 29 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 809/2023/DS-ST. Ngày 10 tháng 10 năm 2023, bị đơn bà Quách Sở V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì kháng cáo của bị đơn còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
[2] Ngày 30 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn có đơn xin rút đơn khởi kiện, và tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện. Đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Quách Sở V cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không khách quan, không đánh giá đúng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đồng thời chữ ký tại Giấy mượn tiền không phải là của bà. Đề nghị cấp phúc thẩm thu thập bản gốc Giấy mượn tiền để giám định chữ ký và hủy bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên đơn bà Phong Tú H căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 01/9/2009 khởi kiện yêu cầu bà Q Sở Văn trả cho bà 100 lượng vàng SJC. Theo nội dung giấy mượn tiền thì hai bên không có thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ, mà chỉ thỏa thuận là: “Ngay khi ông Trương Thịnh N1 (là bạn thân của ông Trương Kính M) cùng Công ty TNHH T2 mỗi bên nhận được 50% trị giá của số tiền huê hồng 722 (Bảy trăm hai mươi hai) lượng vàng SJC, do cùng nhau giới thiệu cho Công ty TNHH T3 do ông Trương Kính M làm Chủ tịch Hội đồng thành viên mua được thửa đất tại địa chỉ 961- 963- I T, phường E, Quận E theo hợp đồng dịch vụ ký ngày 01/9/2009, thì ông N1 sẽ giúp tôi (bà V) hoàn trả đủ cho bà P Tú Hiền hoặc ngay khi tôi (bà V) nhận được tiền đặt cọc bán thửa đất tại ấp E, xã H, huyện B của chủ quyền số X 183296, số W 512943, số W 608163 thì lập tức tôi hoàn trả đủ cho bà Tú H số tiền trên, cùng với chi phí là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng về việc xin chuyển mục đích lên đất ở cho 300m² thuộc ấp E, xã H, huyện B và tôi đã lập giấy ủy quyền cho bà P Tú Hiền do Ủy ban nhân dân phường A chứng thực số: 36/Quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 06/3/2009. Tôi cam kết không được phép làm cớ mất để lấy lại chủ quyền mới của 300m² đất ở để bán cho người khác mà không thông báo và thanh toán đầy đủ cho bà H.
Căn cứ vào Giấy mượn tiền trên, bà H đã khởi kiện yêu cầu bà V phải trả cho bà H 100 lượng vàng SJC. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà V phải trả 100 lượng vàng SJC theo Giấy mượn tiền ngày 01/9/2009. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà V kháng cáo yêu cầu được giám định chữ ký trên Giấy mượn tiền ngày 01/9/2009 có phải chữ ký của bà hay không.
Xét, ngày 29 tháng 01 năm 2024, bà Nguyễn Lê Kỳ D1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Quách Sở V có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của bà Quách Sở V trên Giấy mượn tiền đề ngày 01/9/2009 so với chữ ký trên Giấy ủy quyền ký tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B số chứng thực: 36/ Quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 06/3/2009 có phải do cùng một người ký ra hay không?
Căn cứ kết luận giám định số 1302/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: “Chữ ký đứng tên Quách Sở Văn dưới mục “Bên vay tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Quách Sở Văn trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 là không phải do cùng một người ký ra”.
Không đồng ý với kết luận giám định trên, ngày 10/4/2024 nguyên đơn bà Phong Tú H đã có đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu và yêu cầu giám định lại gởi V1 Bộ C3.
Tại kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của V1 Bộ C3: “Chữ ký đứng tên Quách Sở Văn trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Quách Sở Văn trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 không phải do cùng một người ký ra”.
Như vậy, có căn cứ xác định Giấy vay tiền ngày 01/09/2009 tại mục Bên vay tiền không phải là chữ ký của bà Quách Sở V. Do đó, không có việc vay mượn tiền là 100L vàng SJC giữa bà Phong Tú H và bà Q Sở Văn tại Giấy mượn tiền nêu trên.
Xét lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng bà V không quen biết bà H và chưa từng gặp mặt bà H, trước giờ bà Văn chỉ giao dịch với ông C là đại diện hợp pháp của Công ty T2 về việc thực hiện dịch vụ làm giấy tờ nhà đất cho bà V là có cơ sở; chữ ký, nội dung trong giấy mượn tiền ngày 01/9/2009 là giả mạo, không có thật là phù hợp với kết luận giám định. Do đó, kháng cáo của bà Quách Sở V là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Quách Sở V, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phong Tú H là có căn cứ.
[5] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Quách Sở V, sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Quách Sở V;
Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 401, Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phong Tú H về việc: Buộc bà Quách Sở V có trách nhiệm trả cho bà P Tú Hiền 100 lượng vàng SJC tương đương với số tiền là 6.815.000.000 (sáu tỷ tám trăm mười lăm triệu) đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà P Tú Hiền đối với ông Trương Thịnh N1 (Trương Lý T).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phong Tú H phải chịu 114.815.000 (một trăm mười bốn triệu tám trăm mười lăm nghìn) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Quách Sở V không phải chịu.
H2 lại cho bà P Tú Hiền số tiền 57.390.000 (năm mươi bảy triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0033969 ngày 27/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho bà V số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0026619 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
- - TAND tối cao;
- - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
- - TAND quận Bình Tân;
- - VKSND Tp. HCM;
- - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
- - Chi cục THADS Quận Bình Tân;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ.
CÁC THẨM PHÁN TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền Đỗ Thị Hòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thảo |
Bản án số 681/2024/DSPT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 681/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn
