TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 681/2025/DS-PT Ngày: 18-6-2025 V/v tranh chấp di sản thừa kế, huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1752/2025/QĐPT-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Hà Vĩnh T, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thu C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; Địa chỉ: 1 D, H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Quốc A, sinh năm 1989 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1994 (vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn M (Nguyen B), sinh năm 1955; Địa chỉ: Số E, Gessner Ct A, TX 76018 USA (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Cao X, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bà Đặng Thị P, sinh năm 1933; Địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bà P: Ông Lê Hà Vĩnh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1988; Địa chỉ: A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thúy P1, sinh năm 1965; Địa chỉ: D S, Norcrooss G – 4741, USA (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Lệ T3, sinh năm 1960; Địa chỉ: A SW C THPL F, W – 6905 (vắng mặt).
- Nguyễn Văn T4, sinh năm 1967; Địa chỉ: B, E, Jefferson G 30549 USA;
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thúy P1, bà Nguyễn Thị Lệ T3, ông Nguyễn Văn T4: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1958; Địa chỉ: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Phòng Tư pháp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp tại thửa 200 (thửa cũ là thửa 29) tờ bản đồ 58 phường H là do cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn C1, bà Đặng Thị P mua của ông Nguyễn Văn T5, bà Huỳnh Thị V từ tháng 02/1975, trong đó có căn nhà diện tích 117m². Tuy nhiên do đã lâu nên ba mẹ bà đã làm thất lạc giấy tờ mua bán trên nên không có chứng cứ gì chứng minh. Sau đó cha mẹ bà xin phép sửa chữa và nới rộng diện tích nhà ở và được cấp phép số 1254- GP-PNĐ ngày 07/12/1985. Sau đó vào ngày 08/5/1987 cha mẹ bà được Ty xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 7678/CN- SHN tại địa chỉ D ấp N xã H. Đến năm 1994 thì ông C1 mất.
Ông C1 bà P có 8 người con chung gồm: Ông Nguyễn Văn M (N), Nguyễn Văn R, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị Lệ T3, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thúy P1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thị Thu T2. Ngoài ra ông C1 bà P không có người con nào khác.
Năm 2002, bà P xây dựng lại nhà trên đất để ở cho đến nay. Chi phí xây dựng nhà toàn bộ do ông M gửi toàn bộ chi phí. Vào ngày 02/07/2007 bà P làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 02/10/2007 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK203565 và số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 101 455 tại thửa đất 29 tờ bản đồ số 58 xã H, thành phố B.
Năm 2008, bà P bị bệnh tai biến, nằm liệt một chỗ không thể di chuyển, vợ chồng người em của bà là ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thu C thỉnh thoảng có qua chăm sóc mẹ tôi và hứa hẹn sẽ lo cho bà P đến khi qua đời. Ông R và bà C có yêu cầu làm hợp đồng cho tặng toàn bộ tài sản cho ông R và bà C. Mọi công việc đều do ông R và bà C tự lo hồ sơ cho đến khi hoàn thành xong hợp đồng tặng cho. Sau đó ông R và bà C làm thủ tục đăng ký biến động qua tên mình vào ngày 26/09/2008 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bn Hoà.
Năm 2015, ông R, bà C xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 29 tờ bản đồ 28 xã H, B. Ngày 09/06/2015 thì ông R và bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA696000.
Ngày 23/10/2015, ông R và bà C làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Cao X là người cháu trong gia đình, nhưng trong đơn đề nghị tách thửa đất ngày 07/07/2015 (ông R và bà C viết là cho cháu). Ngày 17/11/2015 ông Nguyễn Cao X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU427.666, số vào số cấp GCN SC07498 tại thửa đất số 201 tờ bản đồ số 58 xã H với diện tích là 122,9m². Ông R, bà C cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sẵn khác gắn liền với đất số BU 427665, cấp ngày 17/11/2015 tại thửa đất số 200 tờ bản đồ số 58 xã H với diện tích là 123m².
Năm 2018 thì ông R bị bệnh qua đời. Khi ông R còn sống cho đến khi qua đời, bà C, Quốc A và Thu T1 không sinh sống tại địa chỉ D khu phố N, phường H. Chỉ có bà P và cháu ngoại bà P là ông X sinh sống và quản lý tài sản. Đây là tài sản do ông C1 và bà P tạo dựng mà có. Mong muốn là để lại tài sản cho con, cho cháu về sum họp gia đình, làm nhà từ đường. Do đó nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 904 quyển số 01 tại Phòng tư pháp thành phố Biên Hòa ngày 19/8/2008 đối với thửa đất số 29 (số cũ), số mới là thửa 200, 201 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn C1 cho các hàng thừa kế theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu các hàng thừa kế thanh toán lại chi phí ông Nguyễn Văn M đã bỏ ra để xây dựng nhà.
Nguyên đơn đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Ngoài các chứng cứ đã nộp cho Tòa án, không còn bổ sung tài liệu chứng cứ nào khác; Không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chúng và người tham gia tô tụng khác tại phiên tòa.
Bị đơn bà Nguyễn Thu C trình bày:
Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nhà đất tại thửa 200 tờ bản đồ 58 phường H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho bà P năm 2007. Bà P là người được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà hợp pháp. Do đó bà P được toàn quyền quyết định đối với nhà đất này. Hợp đồng tặng cho giữa bà P và ông R bà C không phải là hợp đồng tặng cho có điều kiện. Hợp đồng tặng cho được thực hiện năm 2008, sau đó năm 2015 ông R bà C còn làm thủ tục chuyển quyền sử dụng % thửa đất bà P tặng cho để sang tên cho cháu X. Việc này những người trong gia đình đều biết nhưng không ai có ý kiến gì. Do đó bà L yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho giữa bà P – ông R, bà C và chia di sản thừa kế của ông C1 là không có căn cứ.
Bị đơn đồng ý yêu cầu của bà P về việc chia thừa kế của ông R, đồng ý để bà P nhận di sản bằng hiện vật là nhà đất tại thửa 200 tờ bản đồ 58 phường H, bà P thanh toán lại giá trị phần thừa kế cho bà C và các con của ông R, bà C.
Bị đơn đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Ngoài các chứng cứ đã nộp cho Tòa án, không còn bổ sung tài liệu chứng cứ nào khác; Không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy P1, ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị Lệ T3 (do bà L đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 904 quyển số 01 tại Phòng tư pháp thành phố Biên Hòa ngày 19/8/2008 đối với thửa đất số 29 (số cũ), số mới là thửa 200, 201 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn C1 cho các hàng thừa kế theo đúng quy định pháp luật đối với thửa 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu các hàng thừa kế thanh toán lại chi phí ông Nguyễn Văn M đã bỏ ra để xây dựng nhà.
Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy P1, ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị Lệ T3 đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị P do ông Lê Hà Vĩnh T đại diện trình bày:
Thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 904 quyển số 01 tại Phòng tư pháp thành phố Biên Hòa ngày 19/8/2008 đối với thửa đất số 29 (số cũ), số mới là thửa 200, 201 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn C1 cho các hàng thừa kế theo đúng quy định pháp luật đối với thửa 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu các hàng thừa kế thanh toán lại chi phí ông Nguyễn Văn M đã bỏ ra để xây dựng nhà.
Bà yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn R cho các hàng thừa kế theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 tọa lạc tại phường H, thành phố B. Bà yêu cầu được nhận nhà đất và thanh toán lại giá trị tài sản cho các hàng thừa kế theo quy định. Bà đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Cao X trình bày:
Ông là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 201 tờ bản đồ 58 xã H, thành phố B. Ông thống nhất với ý kiến của bà L trình bày. Ông sẵn sàng trả lại đất cho bà P để làm nhà từ đường. Ông đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T2 trình bày:
Bà là con ruột của bà P ông C1. Bà thống nhất với ý kiến của bà P và bà L, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Bà đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Thống nhất với ý kiến của bà P và bà L, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Bà đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H1 trình bày:
Thống nhất với ý kiến của bà P và bà L, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Bà đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc A, bà Nguyễn Thị Thu T1 trình bày:
Ông Nguyễn Quốc A, bà Nguyễn Thị Thu T1 là con ruột của ông R, bà C. Ông bà thống nhất với ý kiến của bà C, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Ông bà đồng ý với bản vẽ hiện trạng khu đất và chứng thư Thẩm định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 692, Điều 722 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 649, Điều 650, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 19/8/2008 giữa bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thu C.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn C1 đối với thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị P về việc chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn R đối với thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể:
Bà Đặng Thị P thanh toán lại cho bà Nguyễn Thu C số tiền 1.861.563.000 đồng.
Bà Đặng Thị P thanh toán lại cho ông Nguyễn Quốc A số tiền 685.839.000 đồng.
Bà Đặng Thị P thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 685.839.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Giao cho bà Đặng Thị P được quyền sử dụng 123m² đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giới hạn bởi các mốc 1, 2, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 Bản đồ hiện trạng khu đất số 628/2022 ngày 20/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B1. Bà Đặng Thị P được quyền sở hữu toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng trên đất. Bà Đặng Thị P có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H cho bà Đặng Thị P đứng tên trên giấy chứng nhập quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về các chi phí tố tụng, về án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/10/2024, nguyên đơn đơn bà Nguyễn Ngọc L kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự gồm bà Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thu C, ông Nguyễn Quốc A, ông Nguyễn Cao X, bà Đặng Thị P thỏa thuận được việc giải quyết vụ án như sau:
Giao cho bà Nguyễn Thu C được quyền sử dụng 123m² đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giới hạn bởi các mốc 1, 2, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 Bản đồ hiện trạng khu đất số 628/2022 ngày 20/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B1. Bà Nguyễn Thu C được quyền sở hữu toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng trên đất. Bà Nguyễn Thu C có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H cho bà Nguyễn Thu C đứng tên trên giấy chứng nhập quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thu C sẽ thanh toán số tiền 700.000.000 đồng cho bà Đặng Thị P sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật (đây là kỷ phần thừa kế). Bà C sẽ cho bà P sinh sống đến chết, không ai được tranh chấp, khiếu nại gì và chỉ nhận tài sản khi bà P chết, trong thời gian sinh sống, bà C được phép về thắp nhang cho gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thỏa thuận được việc giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc L làm trong thời hạn luật định, bà L là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, và vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L1, bị đơn bà Nguyễn Thu C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc A, ông Nguyễn Cao X, bà Đặng Thị P có mặt, các đương sự khác vắng mặt. Vì vậy, theo quy định tại Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.
[3] Tại văn bản thỏa thuận ngày 18/6/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự gồm bà Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thu C, ông Nguyễn Quốc A, bà Đặng Thị P, người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị P là ông Lê Hà Vĩnh T đã thỏa thuận về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Giao cho bà Nguyễn Thu C được quyền sử dụng 123m² đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giới hạn bởi các mốc 1, 2, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 Bản đồ hiện trạng khu đất số 628/2022 ngày 20/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B1. Bà Nguyễn Thu C được quyền sở hữu toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng trên đất. Bà Nguyễn Thu C có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H cho bà Nguyễn Thu C đứng tên trên giấy chứng nhập quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thu C sẽ thanh toán số tiền 700.000.000 đồng cho bà Đặng Thị P sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật (đây là kỷ phần thừa kế). Bà P được sinh sống trên nhà đất tại thửa đất 200, tờ bản đồ số 58 cho đến khi chết. Sau khi bà P Chết bà C được nhận lại tài sản trên. Trong thời gian bà P sinh sống trong căn nhà thì bà C được quyền về nhà để thắp nhang cho tổ tiên, không ai được ngăn cản.
Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các đương về việc giải quyết vụ án là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận. Do đó, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm số 54/2014/DS–ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[4] Về chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá: Bà Nguyễn Ngọc L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ là 5.972.059 đồng, và 45.133.000 đồng chi phí thẩm định giá. Bà Nguyễn Ngọc L đã nộp xong.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc L, bà Đặng Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thu C, ông Nguyễn Quốc A, bà Nguyễn Thị Thu T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng Điều 692, Điều 722 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 649, Điều 650, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Giao cho bà Nguyễn Thu C được quyền sử dụng 123m² đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giới hạn bởi các mốc 1, 2, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 628/2022 ngày 20/02/2023 và Bản đồ hiện trạng khu đất số 1516/2023 ngày 11/4/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B1. Bà Nguyễn Thu C được quyền sở hữu toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng trên đất. Bà Nguyễn Thu C có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất thuộc thửa đất số 200 tờ bản đồ 58 phường H cho bà Nguyễn Thu C đứng tên trên giấy chứng nhập quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thu C có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đặng Thị P số tiền 700.000.000 đồng sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bà Đặng Thị P được quyền lưu cư trên nhà đất tại thửa đất 200, tờ bản đồ số 58 cho đến khi chết. Sau khi bà P chết, bà Nguyễn Thu C được nhận lại tài sản trên. Trong thời gian bà P lưu cư trong căn nhà thì bà C được quyền về nhà để thắp nhang cho tổ tiên, không ai được ngăn cản.
- Về chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá: Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ là 5.972.059 đồng, và 45.133.000 đồng chi phí thẩm định giá. Bà Nguyễn Ngọc L đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc L, bà Đặng Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thu C, ông Nguyễn Quốc A, bà Nguyễn Thị Thu T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Ngọc L.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Đặng Văn Ý | Trần Thị Hòa Hiệp | Vương Minh Tâm |
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | ||
| THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | ||
| Vương Minh Tâm | ||
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh;
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, VT, HQ.
Bản án số 681/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế, huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 681/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp di sản thừa kế, huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
