|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 681/2024/DS-PT Ngày 27-11 - 2024 V/v: “Tranh chấp QSD đất và tài sản gắn liền với QSD đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hoàng.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh;
- Bà Trần Thị Thu Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền - Thư ký TAND TP Hà Nội.
- Đại diện VKSNDTP. Hà Nội: Bà Ngô Phương L - Kiểm sát viên.
Ngày 27/11/2024, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 527/2022/DSPT ngày 22/11/2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”. Do bản dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 của TAND quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo và Quyết định giám đốc thẩm số 74/2022/DS-GĐT ngày 17/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2023/QĐXX-PT ngày 01/02/2023; các Quyết định hoãn phiên tòa và các Thông báo mở lại phiên tòa tiếp theo của TAND Thành phố Hà Nội đối với các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần T2; Trụ sở: Số F N, phường P, quận H, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C - Chủ tịch Hội đồng quản trị; ông Nguyễn Tiến M - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần T2 và Người đại diện theo ủy quyền: Các bà Bùi Thị Thu H, Dương Thị Kiều L1 (theo giấy ủy quyền ngày 15/3/2023. Địa chỉ liên hệ: Công ty T2- tầng 5, lô V.8, tòa nhà I- số B N, phường T, quận T, Hà Nội).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Các Luật sư Phan Thị Lam H1, Nguyễn Đức T- Công ty T2 (tầng 5, lô V.8, tòa nhà I- số B N, phường T, quận T, Hà Nội). Có mặt.
- Bị đơn: Tổng công ty L3 - Trụ sở: Số A L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc K, ông Phí Mạnh C1. Người đại diện theo ủy quyền: Các bà Nguyễn Thị Phong L2, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thu H2 và ông Phạm Bá H3.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Minh Q - Công ty L4. Địa chỉ: Số A ngõ C, phường T, quận B, Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1
- Ủy ban nhân dân Thành phố H. Trụ sở: Số A phố L, quận H, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND Thành phố H. Vắng mặt
- Công ty cổ phần T2. Địa chỉ: Số A phố L, phường P, quận H, Hà Nội. Người đại dện theo pháp luật: Bà Lê Lan H4- Chủ tịch Hội đồng quản trị, xin vắng mặt.
-
Người kháng cáo:
- 4.1. Tổng công ty L3 là bị đơn
- 4.2. Công ty cổ phần T2 là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm.
1. Nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần T2 (Sau đây viết tắt là Công ty CP T2) tiền thân là Công ty T2 (Sau đây viết tắt là Công ty T2), doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước trực thuộc Tổng công ty L3.
Năm 1989-1990, Công ty T2 đã dùng vốn tự có của doanh nghiệp để đầu tư xây dựng ngôi nhà 3 tầng tại số F N, quận H, Hà Nội (Sau đây viết tắt là nhà, đất số 67 Ngô Thì N) làm nhà làm việc và cửa hàng kinh doanh của Công ty (Đã được Tổng Công ty L3 và Bộ N2 xác nhận tại văn bản số 15/TCT ngày 28/02/1997; Cục quản lý vốn và tài sản doanh nghiệp nhà nước Thành phố H xác nhận tại văn bản số 54/KTTC ngày 12/6/1997). Năm 1991, công trình hoàn thành và được đưa vào sử dụng. Cũng từ đó, Công ty T2 đã quản lý và sử dụng công trình cùng với cơ sở nhà, đất số 67 N.
Tại Quyết định số 153/TCLD ngày 15/3/1993 của Bộ trưởng Bộ L5 quyết định đặt trụ sở của Công ty T2 (Sau đổi tên thành Trung tâm thương mại L6 và thành Công ty Thương mại Lâm sản H5 sau này) tại số F N, quận H, Hà Nội và Quyết định số 384/NN-TCCB/QĐ ngày 28/12/1995, Bộ trưởng Bộ N2 (Sau đây viết tắt là Bộ N3) đã quyết định: Trụ sở của Công ty T2 đóng tại A H và số F N, quận H, Hà Nội.
Ngày 3/10/1997, trả lời Tổng công ty L3 về việc xin xác nhận quyền sở hữu trụ sở 67 Ngô Thì N và A H, quận H, Hà Nội, Bộ N3 đã có văn bản số 3569/NN-ĐTXD/CV tiếp tục khẳng định “ Trụ sở tại 13 Hòa Mã và 67 Ngô Thì N đã giao cho Công ty T2.”
Quá trình hoạt động, ngày 12/6/1999 Tổng công ty L3 ban hành Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ về việc điều động tầng 1 của nhà số F N thuộc Công ty T2 về Văn phòng Tổng công ty L3. Tuy nhiên, việc điều động tài sản của Tổng công ty L3 là không đúng quy định của pháp luật và hai bên cũng chưa tiến hành bàn giao tài sản trên thực tế. Việc Tổng công ty L3 tự điều chuyển tài sản của Công ty T2 khi chưa có quyết định của Bộ N3 là không đúng thẩm quyền. Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại Điều 9 Quy chế Quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định số 59-CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ thì:
2
“Điều 9. Doanh nghiệp Nhà nước được quyền thay đổi cơ cấu vốn, tài sản phục vụ cho việc phát triển kinh doanh.
Trong các Tổng công ty nhà nước, Tổng giám đốc thực hiện việc điều động tài sản giữa các doanh nghiệp thành viên theo phương án đã được Hội đồng quản trị phê duyệt. Trong vòng 10 ngày sau khi điều động tài sản, Tổng công ty phải thông báo kết quả điều động tài sản cho C2 và Thủ trưởng cơ quan Quyết định thành lập doanh nghiệp”
Như vậy, việc thay đổi cơ cấu vốn, tài sản phải để phục vụ cho việc phát triển kinh doanh. Hơn nữa, Tổng công ty không có quyền điều động tài sản của các đơn vị thành viên về Tổng công ty mà chỉ có quyền điều động tài sản giữa các doanh nghiệp thành viên với nhau theo Phương án đã được phê duyệt. Tổng công ty cũng không có bất cứ thông báo nào tới Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, với Bộ N3 theo quy định tại Điều 9 Quy chế Quản lý tài chính và hoạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định số 59-CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ.
Trên thực tế, từ khi ban hành Quyết định 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp ngày 31/12/2003, Bộ N3 đã có Quyết định xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa; giữa Tổng công tL3 và Công ty T2 chưa tiến hành bàn giao tài sản là tầng 1 của nhà số F N, chưa có chứng từ bàn giao tài sản.
Do vậy, việc điều động tài sản năm 1999 của Tổng công ty L3 là không đúng quy định pháp luật.
Ngày 05/6/2003, UBND Thành phố H đã ban hành Quyết định số 3614/QĐ-UB về việc cho Công ty T2 thuê 1.795,8m² đất tại số A H và số F N để làm văn phòng giao dịch và kinh doanh. Thời gian thuê được xác định trong quyết định này là 30 năm kể từ ngày 01/5/2003. Sau đó, ngày 19/8/2003, Công ty T2 ký Hợp đồng thuê đất với Sở địa chính-Nhà đất H6. Đến ngày 24/12/2003, Công ty T2 được UBND Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X968709 (Sau đây viết tắt là GCNQSD Đ số X968709) đối với diện tích đất nêu trên theo Quyết định số 7907/QĐ-UB.
Ngày 26/02/2004, Bộ trưởng Bộ N3 ban hành Quyết định số 459/QĐ/BNN-TCCB về việc Công ty T2 tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp. Ngày 26/7/2004, Công ty T2 tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp và lập biên bản xác định giá trị doanh nghiệp tính đến thời điểm ngày 31/12/2003. Trong bảng kiểm kê và xác định tài sản nhà cửa, kho tàng, kiến trúc tại mục 3 (Đính kèm với biên bản xác định giá trị doanh nghiệp) đã xác định tài sản bao gồm cả nhà 3 tầng 67 N.
Vì có Quyết định 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 nên ngày 06/9/2004, Công ty CP T2 và Tổng công ty L3 đã ký Biên bản số 1033 HĐQT/KTTC/BB xác định phân chia và thống nhất quyền quản lý, sử dụng nhà số F N với nội dung Tổng công ty L3 được quyền sử dụng 12 gian tầng 1 với diện tích sàn sử dụng 343,04m².
3
Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ N3 đã ban hành Quyết định số 3405/BNN-TCCB về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần với hình thức cổ phần hóa; giữ nguyên vốn nhà nước hiện có và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn. Giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm ngày 31/12/2003 để cổ phần hóa được xác định dựa trên Biên bản xác định giá trị doanh nghiệp ngày 26/7/2004 là 58.398.508.290 đồng bao gồm cả diện tích tầng 1 nhà 3 tầng tại số F N.
Ngày 14/12/2004, Công ty T2 được Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố H6 cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần. Sau khi hoàn thành việc cổ phần hóa, do có sự thay đổi về tên người sử dụng đất nên ngày 02/7/2007, Công ty CP T2 đã cùng với Sở H6 ký Hợp đồng thuê đất số 173 -07/HĐTĐTN đó Công ty CP T2 được thuê 1.795,8m² đất tại số A H và 67 Ngô Thì N làm văn phòng giao dịch và kinh doanh.
Ngày 20/7/2010, Công ty T2 đã tiến hành bàn giao tài sản và các nguồn lực kinh tế xã hội từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty CP T2. Hai bên đã lập Biên bản số 10/BBBG-CTY về việc bàn giao các tài sản này. Chứng kiến việc bàn giao ngoài đại diện của hai bên còn có sự tham gia của một số thành viên Tổng Công ty L3. Tại Phụ lục số 03 của Biên bản bàn giao đã thống kê chi tiết tài sản cố định được tính vào giá trị doanh nghiệp trong đó bao gồm cả tài sản là nhà 3 tầng số 67 N. Tuy nhiên Tổng công ty L3 vẫn căn cứ vào Biên bản số 1033/HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 để chiếm hữu và sử dụng diện tích 12 gian tầng 1 là tài sản thuộc sở hữu của Công ty CP T2.
Công ty CP T2 đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Tổng công ty L3 phải trả cho Công ty CP T2 quyền sở hữu 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) nhà 3 tầng gắn liền với quyền sử dụng 1.795,8m² đất.
- Buộc Tổng công ty L3 bồi thường thiệt hại cho Công ty CP T2 về việc sử dụng, khai thác diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) nhà 3 tầng gắn liền với quyền sử dụng 1795,8m² đất, tạm tính từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2017 số tiền là 23.563.283.600 đồng, chưa bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng.
2. Bị đơn trình bày:
Trước khi tiến hành cổ phần hóa vào năm 2004, Công ty T2 là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trực thuộc Tổng công ty L3 và nhà 3 tầng được xây dựng trên diện tích 1.795,8m² đất là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Từ năm 1999, căn cứ Nghị quyết số 72/TCT-HĐQT ngày 05/6/1999 của Hội đồng quản trị Tổng công ty L3 lần thứ XII, Tổng công ty L3 đã có Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 điều động 12 gian tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N về Văn phòng Tổng Công ty L3 quản lý, sử dụng.
Sau khi thực hiện việc bàn giao tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N cho Văn phòng Tổng công ty L3, Công ty T2 đã hạch toán giảm nguồn vốn cố định
4
của mình đối với tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N (được thể hiện trong “Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 1999 của Công ty”); đồng thời Văn phòng Tổng công ty L3 cũng đã hạch toán ghi tăng tài sản và nguồn vốn Nhà nước đối với tầng 1 nhà 3 tầng tại F N. Như vậy là ngay từ năm 1999, khi Công ty T2 chưa được cổ phần hóa, thì tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N đã không còn thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty T2, mà là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng.
Ngay sau khi bàn giao tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N về Văn phòng Tổng Công ty L3, Công ty T2 đã có công văn số 433CT/KTTC-CV ngày 27/10/1999 gửi Chi cục Thuế quận H đề nghị: “……… trực tiếp thu tiền thuê đất của Tổng công ty L3 và giảm trừ thu tiền thuê đất của Công ty T2 là 376,2 m² kể từ ngày 1/7/1999 trở đi...”.
Khi Công ty T2 tiến hành cổ phần hóa vào năm 2004, để đảm bảo tính pháp lý về quyền quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, ngày 26/7/2004 Tổng công ty L3 đã tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp. Theo đó, tại Biên bản số 1033-HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 về xác định phân chia và thống nhất quyền quản lý, sử dụng nhà 3 tầng tại F N, Công ty T2 và Tổng Công ty L3 đã xác định như sau:
- “1- 12 gian tầng 1 có diện tích xây dựng = 343,04m² (có sơ đồ kèm theo) hoàn toàn thuộc quyền quản lý và sử dụng của Tổng Công ty.
- “2- Riêng 2 gian cầu thang + phòng bảo vệ tại tầng 1, tầng 2 và tầng 3 thuộc quyền quản lý và sử dụng của Công ty T2...
- “3- Việc đầu tư mới hoặc cải tạo, nâng cấp các tầng sau này (nếu có) mà làm ảnh hưởng đến kết cấu và chiều cao ngôi nhà phải được sự thỏa thuận thống nhất của 2 bên;
- “4- Tổng Công ty L3 sẽ cùng đóng góp tiền thuê đất hàng năm với Công ty T2 theo đơn giá và hệ số qui định của Nhà N1”.
Sau khi Công ty T2 đã chính thức chuyển thành Công ty CP T2 (Theo quyết định số 3405/QĐ/BNN-TCCB ngày 06/10/2004 của Bộ N3), tại Biên bản số 10/BBBG-CTY ngày 20/7/2010 về bàn giao tài sản và các nguồn lực kinh tế xã hội từ Công ty T2 (Doanh nghiệp nhà nước) sang Công ty CP T2 (Doanh nghiệp cổ phần hóa) có ghi rõ: “2. Về tài sản của Tổng công ty L3 tại số F N được xác định theo Biên bản số 1033- HĐQT/ KTTC/BB ngày 06/9/2004 về việc xác định, phân chia và thống nhất “quyền quản lý và sử dụng nhà số F N. Công ty CP T2 có trách nhiệm kế thừa thực hiện...".
Như vậy, Bị đơn khẳng định: Sau khi chuyển đổi thành Công ty cổ phần, Công ty CP T2 đã có văn bản xác nhận tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng. Chính Công ty T2 (trước đây) và Công ty CP T2 (sau khi cổ phần hóa) đều nhận thức được là tầng 1 nhà 3 tầng tại F N là tài sản thuộc sở hữu nhà nước do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng nên đã có nhiều văn bản xác nhận Tổng công ty L3 có quyền sử
5
dụng chung đối với diện tích đất trên có nhà 3 tầng tại F N và yêu cầu Tổng công ty L3 phải đóng góp tiền thuê đất và thuế sử dụng đất tại F N. Cụ thể:
- - Ngày 23/11/2012, Công ty CP T2 có Thông báo số 111 TB/CT-KTTK yêu cầu Tổng công ty L3 đóng góp tiền thuê đất và thuế sử dụng đất tại F N.
- - Ngày 08/4/2014, Tổng công ty L3 đã cùng Công ty CP T2 lập Biên bản về thống nhất phân bổ tiền thuê đất và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại F N, hai bên đã thỏa thuận là: “Tiền thuê đất phân bổ cho diện tích nhà tầng 1 (đồng/m2/năm) = Tổng số tiền thuê đất phải nộp 1 năm: {(Tổng DT tầng 1 x 1,3) + (Tổng DT tầng 2 x 0,7) + (Tổng DT tầng 3 x 0,5) + (DT sân mặt tiền 67 NTN x 0,85) + (DT đất trống còn lại x 0,5) x 1,3}”(Theo công thức tính tiền thuê đất tại Biên bản thỏa thuận này thì tiền thuê đất phân bổ cho diện tích tầng 1 nhà 3 tầng tại F N mà Tổng công ty L3 phải đóng góp với Công ty CP T2 để nộp cho nhà nước được tính cả đối với quyền sử dụng đất của 1.403,67m² đất tại 67 N, bao gồm: 400,31m² trên có nhà 3 tầng + 797,5m² sân mặt tiền 67 Ngô Thì Nhậm + 705,86m² sân và khoảng đất trống còn lại).
- Bộ T3, BNN&PTNT và Ban chỉ đạo 09 Thành phố Hà Nội cũng có nhiều văn bản xác nhận Tổng công ty L3 có quyền quản lý, sử dụng tầng 1 nhà 3 tầng và có quyền sử dụng chung đối với diện tích đất tại 67 Ngô Thì N, cụ thể là:
- - Ngày 16/11/2011, tại cuộc họp bàn thống nhất phương án sắp xếp, xử lý 05 cơ sở nhà đất thuộc Tổng công ty L3, Ban chỉ đạo 09 Thành phố Hà Nội và đại diện Bộ N3 đã kết luận: “Thống nhất đơn vị (là Tổng công ty L3) giữ lại sử dụng tầng 1, nhà 67 N theo diện tích đã được phân chia giữa 2 công ty, 2 công ty phải liên hệ với cơ quan chức năng để hoàn thiện thủ tục về đất đai”.
- - Ngày 06/02/2012, Bộ T3 có văn bản số 1419/BTC-QLCS gửi Bộ N3 thống nhất: Tổng công ty L3 giữ lại 343,04m² diện tích sàn sử dụng 1795,8m² diện tích khuôn viên số 67 N.
- - Ngày 25/9/2014, Bộ T3 có văn bản số 13531/BTC-QLCS xác nhận: “343,04m² diện tích sàn sử dụng (12 gian tầng 1) tại số F N là tài sản của Tổng công ty L3 (tài sản Nhà nước giao Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng); diện tích 1.795,8m² đất là diện tích được sử dụng chung”. Đồng thời đề nghị: “Tổng công ty L3 liên hệ với các Sở, ngành có liên quan của Thành phố Hà Nội điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 67 Ngô Thì Nhậm theo hình thức sử dụng chung...".
- - Ngày 24/12/2014, Bộ N3 còn có văn bản số 10281/BNN-QLDN gửi UBND Thành phố H xác nhận: “343,04m² diện tích sàn sử dụng (12 gian tầng 1) tại 67 N là tài sản của Tổng Công ty L3 (Tài sản nhà nước giao cho Tổng Công ty quản lý, sử dụng) đề nghị UBND Thành phố H tạo điều kiện, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất cho Tổng Công ty L3 theo qui định của pháp luật”.
Là đơn vị có quyền sử dụng đất chung tại 67 N, Tổng công ty L3 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong việc đóng góp cùng Công ty CP T2 nộp
6
tiền thuê đất và thuế sử dụng đất tại F N (Được chứng minh qua các ủy nhiệm chi số 878, 1305, 1912, 2610 về việc chuyển cho Công ty CP T2 2.814.693.151 đồng nộp tiền thuê đất và thuế sử dụng đất của các năm từ 2005 đến 2015).
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nêu trên, bị đơn xác định tầng 1 nhà 3 tầng tại số F N không thuộc quyền sở hữu của Công ty CP T2 mà là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng. Do đó, yêu cầu khởi kiện “tranh chấp quyền sở hữu tầng 1 nhà 3 tầng tại số F N” của Công ty CP T2 hoàn toàn không có căn cứ pháp lý.
Để có cơ sở giải quyết vụ án được toàn diện và đúng pháp luật khi giải quyết yêu cầu khởi kiện: “Tranh chấp quyền sở hữu tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì Nhậm” của Công ty CP T2. Đề nghị Tòa án đồng thời xem xét giải quyết việc Tổng công ty L3 có hay không có quyền sử dụng chung hợp pháp đối với diện tích đất trên đó có nhà 3 tầng tại só F N nên có yêu cầu phản tố. Đề nghị Tòa án:
- - Bác yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sở hữu tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì Nhậm” của Công ty CP T2 ;
- - Công nhận tầng 1 nhà 3 tầng tại 67 Ngô Thì N là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng;
- - Công nhận quyền sử dụng chung hợp pháp của Tổng công ty L3 đối với 1.403,67m² đất trên tổng diện tích 1.795,8m² đất tại số A H và F N, quận H, Thành phố Hà Nội.
- - Kiến nghị UBND Thành phố H điều chỉnh để cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho Tổng Công ty L3 tại 67 Ngô Thì Nhậm theo đúng qui định của pháp luật.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân Thành phố H trình bày:
- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Ngày 06/6/2003 UBND Thành phố có Quyết định số 3164/QĐ-UB cho Công ty T2 (thuộc Tổng công ty L3) thuê 1.795,8m² đất tại số A phố H và số F phố N, phường N, H, Hà Nội do Công ty đang quản lý, sử dụng cùng các công trình hiện có để làm văn phòng giao dịch và kinh doanh; thời gian thuê đất là 30 năm kể từ ngày 16/5/2003.
- Ngày 19/8/2003, Sở Địa chính và nhà đất Hà Nội ký Hợp đồng thuê đất số 103-2003/ĐCNĐ-HĐTĐTN cho Công ty T2 thuê 1.795,8m² đất tại số A phố H và 67 phố N, phường N, quận H, Hà Nội để làm văn phòng giao dịch và kinh doanh theo Quyết định số 3164/QĐ-UBND.
- Ngày 24/12/2003, UBND Thành phố H cấp GCNQSDĐ số X968709, diện tích 1.795,8m² tại 13 phố H và 67 phố N, phường N, H, Hà Nội cho Công ty T2.
- Ngày 06/10/2004, Bộ N3 có Quyết định số 3405/QĐ/BNN-TCCB phê duyệt phương án cổ phần hóa Công ty T2 thành Công ty CP T2.
7
Ngày 26/7/2006, Sở H6 cấp giấy phép xây dựng số 252/GPXD cho Công ty CP T2 được phép tháo dỡ nhà cũ, xây dựng Trung tâm thương mại và văn phòng giao dịch cao 07 tầng tại F phố N, phường N, quận H, Hà Nội.
Ngày 13/02/2007, Sở H6 vả nhà đất thực hiện đăng ký biến động tại trang 4 GCNQSDĐ số X968709 đã cấp cho Công ty T2 với nội dung: “Người sử dụng đất được đổi tên là Công ty CP T2, theo Quyết định số 3405/QĐ/BNN-TCCB ngày 06/10/2004 của Bộ N3; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần T2 đăng ký lần đầu ngày 14/12/2004 do Sở H6 cấp”.
Ngày 02/7/2007, Sở H6 và nhà đất thanh lý Hợp đồng thuê đất số 103-2003/ĐCNĐ-HĐTĐTN ngày 19/8/2003 đã ký với Công ty T2. Đồng thời đã tiến hành ký Hợp đồng thuê đất số 173-07/HĐTĐTN với Công ty CP T2 (Theo Thông tư số 09/2006/TT-BTNMT ngày 25/9/2006 của Bộ T4).
Ngày 28/6/2013, Sở H6 đã ký Phụ lục Hợp đồng thuê đất số 271/PLHĐTĐ với Công ty CP T2 cho phù hợp với đơn giá thuê đất mới được Sở Tài chính phê duyệt tại Quyết định số 6944/QĐ-STC ngày 21/12/2012.
- Về phương án xử lý cơ sở nhà đất tại số F phố N:
Ngày 13/10/2014, Sở H6 có văn bản số 5936/STC-QLCS báo cáo U xử lý cơ sở nhà đất tại số F phố N, như sau: “Về hồ sơ pháp lý, quyền sử dụng 1.795,8m² đất tại địa chỉ số F N, phường N, quận H do Công ty T2 được giao quản lý, sử dụng. Đối với 12 gian tầng 01 do Tổng công ty L3 sử dụng đã có quyết định điều động tài sản của Tổng công ty, tuy nhiên chưa thực hiện việc giảm trừ phần giá trị tài sản cố định của nhà 3 tầng tại số F phố N vào giá trị doanh nghiệp của Công ty T2. Quá trình thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà đất theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì chỉ có Tổng công ty L3 thuộc đối tượng sắp xếp trên cơ sở phương án đề nghị của Bộ N3 và hồ sơ pháp lý do Tổng công ty L3 cung cấp, do vậy việc xử lý của các ngành là đúng theo các quy trình và quy định của pháp luật. Đề nghị Bộ N3 chỉ đạo xử lý dứt điểm việc quản lý, sử dụng nhà tại số F...”. Cũng tại văn bản này đã có nhiều nội dung xác định về: Biên bản họp ngày 08/4/2014; Biên bản bù trừ công nợ ngày 16/7/2014; Công văn số 13531/BTC- QLCS ngày 25/9/2014 của Bộ T3.
Ngày 12/11/2014, UBND Thành phố có văn bản số 8759/UBND-KT về phương án xử lý cơ sở nhà đất tại số F phố N giữa Tổng công ty L3 và Công ty CP T2. Tại văn bản này, UBND Thành phố đề nghị Bộ NN&PTNT: Kiểm tra, rà soát và xem xét xử lý dứt điểm việc quản lý, sử dụng cơ sở nhà đất tại số F phố N giữa Tổng công ty L3 và Công ty CP T2. Sau khi có ý kiến của Bộ N3, UBND Thành phố H sẽ có ý kiến về việc xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa Tổng công ty L3 và các vấn đề liên quan theo quy định.
Ngày 11/02/2015, UBND Thành phố H có văn bản số 1091/UBND-KT về phương án xử lý cơ sở nhà đất tại số F phố N. Tại văn bản này, UBND Thành phố đề nghị Bộ NN&PTNT: Kiểm tra và yêu cầu Tổng công ty L3 chấm dứt việc cho thuê trái quy định, trái mục đích được giao tại địa điểm trên trước ngày 30/4/2015. Điều chỉnh lại giá trị tài sản nhà cửa để tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa Công ty CP T2 theo diện tích Bộ N3 đã xác nhận.
8
Hiện nay, Công ty CP T2 đang phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để giải quyết việc tranh chấp quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích khoảng 343m² thuộc tầng 1 ngôi nhà bê tông 03 tầng tại số F phố N với Tổng công ty L3.
- Về hiện trạng sử dụng đất: Qua kiểm tra hồ sơ, hiện trạng sử dụng đất, Sở H6 xét thấy: Khu đất tại số A Phố H và số F phố N, phường N, quận H do Công ty CP T2 đang quản lý, sử dụng có diện tích 1.795,8m². Hiện trạng ranh giới khu đất đã được xây dựng bằng tường gạch và quây tôn ngăn cách với các thửa đất liền kề. Trên khu đất có một phần diện tích khoảng 1.452,8m² do Công ty CP T2 quản lý, đã tháo dỡ nhà cũ theo Giấy phép xây dựng số 252/GPXD do Sở Xây dựng cấp ngày 26/7/2006, một phần diện tích khoảng 343m² có 01 ngôi nhà bê tông 03 tầng, hiện nay Tổng công ty L3 đang quản lý, cho thuê toàn bộ diện tích tầng 01, Công ty CP T2 đang quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích tầng 2 và tầng 3 làm văn phòng giao dịch và kinh doanh.
-
Đề xuất, kiến nghị:
- - Việc quản lý, sử dụng đất của Công ty CP T2 (Trước đây là Công ty T2) tại số A Phố H và số F phố N, phường N, quận H, Hà Nội đã được UBND Thành phố cho thuê và cấp GCNQSDĐ là đúng quy định của pháp luật về đất đai.
- Tuy nhiên, để có thêm cơ sở, thông tin giải quyết vụ án đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, căn cứ các quy định của pháp luật về đất đai, đề nghị Tòa án liên hệ, làm việc với Ban Đ (Thuộc Bộ N3), Sở Tài chính Thành phố H6 để được cung cấp thêm thông tin về việc điều động tài sản (Tại số A Phố H và số F phố N, phường N, quận H) của Tổng công ty L3, việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước do Tổng công ty L3 đang quản lý, sử dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ).Việc cổ phần hóa Công ty T2 (Việc xác định, phê duyệt giá trị doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa Công ty T2).
- - Đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật về đất đai, các quy định của pháp luật có liên quan để giải quyết vụ án tranh chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại số A Phố H và số F phố N, phường N, quận H giữa Công ty CP T2 với Tổng công ty L3, việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3 - Công ty TNHH A thành viên theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 05/02/2018, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã Quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T2 đối với Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần.
- Buộc Tổng công ty L3 trả cho Công ty cổ phần T2 quyền sở hữu diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) nhà 3 tầng gắn liền với quyền sử dụng 1.795,8m² đất tọa lạc tại số F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội.
9
Giao 12 gian tầng 1 nhà 3 tầng tại F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội cho Công ty cổ phần T2 quản lý, sử dụng.
- Buộc Tổng công ty L3 phải thanh toán cho Công ty cổ phần T2 số tiền 11.216.059.096 đồng (Mười một tỷ, hai trăm mười sáu triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng)là khoản tiền bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) nhà 3 tầng gắn liền với quyền sử dụng 1795,8m² đất tọa lạc tại số F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ chịu lãi suất do chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Không đồng ý với quyết định bản án sơ thẩm
- - Tổng công ty L3 là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm;
- - Công ty CP T2 là nguyên đơn có đơn kháng cáo yêu cầu bồi thường khoản tiền 23.563.283.600 đồng tiền thiệt hại do tài sản bị xâm phạm tính từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2017 và đề nghị không áp dụng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty.
Bản án phúc thẩm số 282/2018/DSPT ngày 13/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã Quyết định:
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 05/02/2018, giao hồ sơ TAND quận Hai Bà Trưng xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 39/2020/KN-DS ngày 22/6/2020, TAND tối cao nhận định:
“... để đảm bảo quyền lợi cần thu thập chứng cứ để làm rõ: Trường hợp toàn bộ giá trị ngôi nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N được định giá để đưa vào cổ phần hóa Công ty CP T2 là 1.078.935.900 đồng (kể cả 12 gian tầng 1) thì yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ; còn ngược lại trường hợp giá trị tài sản khi cổ phần hóa Công ty CP T2 năm 2004 không có 12 gian tầng 1 ngôi nhà 67 N thì Công ty CP T2 không có quyền đòi lại và công nhận của Tổng công ty L3 đối với 12 gian tầng 1 nêu trên”.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 74/2022/DS-GĐT ngày 17/9/2022 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận định:
Các văn bản thể hiện quan điểm của Bộ N3, Bộ T3 trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án; Kết luận thanh tra số 1452/KL-TTCP ngày 21/8/2020 của Thanh tra Chính phủ (do Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm) xác định 12 gian tầng 1 số 67 N là của Tổng công ty L3. Trong khi đó, các tài liệu khi tiến hành cổ phần hóa Công ty T2 lại thể hiện ở nhà 03 tầng tại số F N đã được đưa vào giá trị doanh nghiệp (giá trị Công ty T2) để tiến hành cổ phần hóa. Quyết định: Hủy bản án dân sự phúc thẩm 282/2018/DSPT ngày 13/11/2018 của TAND Thành phố Hà Nội để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm để phải làm rõ chính xác là 12
10
gian tầng 1 số 67 N là tài sản của Tổng công ty L3 hay tài sản đã được đưa vào giá trị Công ty T2 để tiến hành cổ phần hóa và là tài sản của Công ty CP T2.
Sau khi thụ lý tiến hành giải quyết lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
TAND Thành phố Hà Nội đã tiến hành xem xét thẩm định lại nhà đất có tranh chấp. Kết quả: Phần diện tích tranh chấp là 12 gia nhà tại tầng 1 số 67 N vẫn giữ nguyên trạng, các đương sự không xây dựng, sửa chữa hay cải tạo gì thêm. Tuy nhiên, Tổng công ty L3 đã chấm dứt hợp tác kinh doanh với Công ty cổ phần T2.
Hiện nay công ty T2 $A Việt Nam hợp tác với Tổng công ty L3. Do đó Tòa án đã bổ sung Công ty T2 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Công ty T2 trình bày giữa công ty T2 hợp tác với Tổng công ty L3 theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 379/2018/HĐHTKD về việc hợp tác kinh doanh tại 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 N. Từ thời điểm hợp tác kinh doanh đến nay hai bên vẫn đang hợp tác kinh doanh ổn định, không xảy ra tranh chấp. Công ty T2 xin vắng mặt khi Tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn do đại diện theo pháp luật là bà C và các Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tranh luận và xác định:
Ngôi nhà 3 tầng tại số F N là do Công ty T2 dùng vốn tự có của doanh nghiệp để đầu tư xây dựng từ năm 1989-1990. Tổng công ty L3 ban hành Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 điều động 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 Ngô Thì N về Văn phòng Tổng công ty L3 là không đúng pháp luật.
Biên bản số 1033-HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 (trong thời gian đang tiến hành cổ phần hóa), Công ty T2 và Tổng công ty L3 đã phân chia nhà 03 tầng tại số F N và thống nhất xác định 12 gian tầng 1 thuộc quyền quân lý và sử dụng của Tổng công ty L3 là không đúng pháp luật. Biên bản số 10/BBBG-CTY về việc bàn giao các tài sản vẫn nêu căn cứ “Biên bản số 1033-HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 về việc xác định phân chia và thống nhất quyền quản lý và sử dụng nhà số F N, Công ty CP T2 có trách nhiệm kế thừa thực hiện là không có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo đề nghị đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn bồi thường khoản tiền 11.216.059.096 đồng tiền thiệt hại do tài sản bị xâm phạm tính từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2017 và đề nghị không áp dụng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty. Tại phiên tòa phúc thẩm, xuất trình thêm văn bản số 8759/UBND-KT ngày 12/11/2014 và Văn bản số 1082/UBND-KT ngày 12/02/2015 của UBND Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa để nguyên đơn, bị đơn tiếp tục hòa giải theo hướng Công ty CP T2 đề nghị thỏa thuận: Diện tích 343m² tầng 1 của nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N hiện Tổng công ty L3 đang sử dụng sẽ được dịch chuyển về phía Nam, sát ranh giới đất của Công ty D1 và vẫn đảm bảo diện tích 343m² để Tổng công ty sử dụng. Nếu Công ty và Tổng công ty L3 cùng thống nhất các nội dung trên thì hai bên sẽ ký Biên bản và dừng việc
11
tranh chấp tại Tòa án. Trường hợp Hội đồng xét xử không ngừng phiên tòa hoặc bị đơn không đồng ý hòa giải theo nội dung trên thì đề nghị Hội đồng xét xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 với nội dung:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP T2 đối với Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần.
- - Buộc Tổng công ty L3 trả cho Công ty CP T2 quyền sở hữu diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) nhà 3 tầng gắn liền với quyền sử dụng đất tại số F phố N. Giao 12 gian tầng 1 nhà 3 tầng tại F phố N cho Công ty CP T2 quản lý, sử dụng.
- - Buộc Tổng công ty L3 phải thanh toán cho Công ty cổ phần T2 số tiền 11.216.059.096 đồng.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà L2, bà D và Luật sư Q bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn thống nhất trình bày tranh luận:
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đầy đủ chứng cứ, đánh giá chứng cứ không khách quan. Đề nghị, Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố, yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Xác định 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 Ngô Thì N thuộc quyền quản lý, sử dụng của Tổng công ty L3 và Tổng công ty L3 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thuê quyền sử diện tích đất tương ứng 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 Ngô Thì N là 343,04m² đất. Không nhất trí với việc nguyên đơn đề nghị ngừng phiên tòa để các bên hòa giải theo hướng mà Công ty CP T2 xác định: “Diện tích 343m² tầng 1 của nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N hiện Tổng công ty L3 đang sử dụng sẽ được dịch chuyển về phía Nam, sát ranh giới đất của Công ty D1 và vẫn đảm bảo diện tích 343m² để Tổng công ty sử dụng” theo Văn bản số 50/LSHN- HĐQT ngày 16/8/2024 của Công ty CP T2 đã gửi Tổng công ty L3.
Các đương sự không thỏa thuận được cách giải quyết vụ án.
Kiển sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm (theo văn bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án). Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ về TAND quận Hai Bà Trưng xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về Tố tụng:
- - Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Người kháng cáo nộp đơn kháng cáo, biên lai nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định được xác định là kháng cáo hợp lệ.
12
- Tòa án đã bổ sung Công ty T2 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên Công ty T2 xin xét xử vắng mặt; UBND Thành phố H xin được vắng mặt Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự này là đúng quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
2.1. Xét kháng cáo của Tổng công ty L3. Hội đồng xét xử thấy:
Các đương sự đều thừa nhận: Nhà đất tại số F N, có nguồn gốc là tài sản Nhà nước do Bộ L5 (nay là Bộ N3) quản lý. Từ năm 1991, Công ty T2 thuộc Tổng công ty L3 được giao quản lý, sử dụng ngôi nhà 03 tầng trên diện tích 1.795,8m² đất tại số F N do Công ty T2 với tổng diện tích xây dựng là 1.205,82m² (3 tầng), nguyên giá là 587.294.000 đồng.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
- Ngày 12/6/1999, Tổng công ty L3 ban hành Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ điều động 12 gian tầng 1 (diện tích 343,04m²) nhà 03 tầng tại số F N về Văn phòng Tổng Công ty L3 quản lý, sử dụng. Văn phòng Tổng Công ty L3 đã nhận, quản lý tài sản từ ngày 01/7/1999. Sau khi thực hiện việc bàn giao 12 gian tầng 1 nhà 03 tầng tại số F N cho Văn phòng Tổng công ty L3, Công ty T2 đã hạch toán giảm nguồn vốn cố định của Công ty T2 đối với 12 gian tầng 1 nhà 03 tầng tại số F N (được thể hiện trong Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 1999 của Công ty T2 ). Văn phòng Tổng công ty L3 đã hạch toán ghi tăng tài sản và nguồn vốn Nhà nước đối với 12 gian tầng 1 nhà 03 tầng tại số F N.
- Ngày 27/10/1999, Công ty T2 có Công văn số 433CT/KTTC-CV gửi Chi cục Thuế quận H và Tổng công ty L3 với nội dung: Đề nghị Chi cục thuế quận H trực tiếp thu tiền thuê đất của Tổng công ty L3 và giảm trừ thu tiền thuê đất của Công ty T2 là 376,2m² kể từ ngày 01/7/1999 trở đi (gồm 12 gian theo bản thiết kế mặt bằng xây dựng).
- Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ N3 ban hành Quyết định số 3405/BNN-TCCB về việc chuyển Công ty T2 từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần với hình thức cổ phần hóa là: Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn. Giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm ngày 31/12/2003 để cổ phần hóa được xác định dựa trên Biên bản xác định giá trị doanh nghiệp ngày 26/7/2004. Công ty CP T2 là pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập.
- Theo các tài liệu [Bảng kiểm kê và xác định tài sản nhà cửa kho tàng vật kiến trúc của Công ty T2 tại thời điểm 31/12/2003; Biên bản xác định giá trị doanh nghiệp ngày 26/7/2004 đối với Công ty T2 với Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp gồm đại diện Cục T5 doanh nghiệp Bộ T3, Vụ Tài chính Bộ NN&PTNT, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty L3, Giám đốc Công ty T2; Quyết định số 2559/QĐ BNN-TC ngày 25/8/2004 của Bộ trưởng Bộ N3 về việc
13
xác định giá trị doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa Công ty T2...khi xác định giá trị doanh nghiệp (giá trị Công ty T2)] để tiến hành cổ phần hóa thể hiện nhà 03 tầng tại số F N đã được đưa vào giá trị doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hóa. Thực tế, 12 gian tầng 1 nhà số F phố N có diện tích 343,04m² do Tổng công ty L3 quản lý, sử dụng từ năm 1999. Báo cáo tài chính năm 1999 của Công ty T2 đã ghi phần tài sản cố định hữu hình, mục nhà cửa, vật kiến trúc là “giảm giá trị tài sản tầng 1 nhà số F N” và Văn phòng Tổng công ty L3 đã hạch toán ghi tăng tài sản và nguồn vốn Nhà nước đối với tầng 1 nhà 03 tầng tại số F N.
- Biên bản số 1033-HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 (trong thời gian tiến hành cổ phần hóa), Công ty T2 và Tổng công ty L3 đã phân chia nhà 03 tầng số 67 Ngô Thì N; thống nhất xác định: 12 gian tầng 1 của nhà 03 tầng số 67 N hoàn toàn thuộc quyền quản lý sử dụng của Tổng công ty L3.
- Biên bản số 10/BBBG CTY ngày 20/7/2010 về bàn giao tài sản và các nguồn lực kinh tế xã hội từ Công ty T2 sang Công ty CP T2 xác định: Về tài sản của Tổng công ty L3 tại số F N được xác định theo Biên bản số 1033-HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 về việc xác định phân chia và thống nhất quyền quản lý và sử dụng nhà số F N, Công ty CP T2 có trách nhiệm kế thừa thực hiện (có biên bản và bản vẽ cụ thể).
- Sở H6 đã có văn bản số 5936/STC-QLCS ngày 13/10/2014 gửi UBND Thành phố H xác định. “Về ý kiến Liên ngành: Về hồ sơ pháp lý, quyền sử dụng 1.759,8m² đất tại địa chỉ số F N..... đối với 12 gian tầng 1 do Tổng công ty L3 sử dụng đã có quyết định điều động tài sản của Tổng công ty.........; Quá trình thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà đất theo Quyết định 09 của Thủ tướng Chính phủ thì chỉ có Tổng công ty L3 thuộc đối tượng sắp xếp trên cơ sở phương án đề nghị của Bộ N3 và hồ sơ pháp lý do Tổng công ty L3 cung cấp, do vậy việc xử lý của các ngành là đúng theo các quy trình và quy định của pháp luật. Đề nghị Bộ N3 chỉ đạo xử lý dứt điểm việc quản lý, sử dụng nhà tại số F...”. Cũng tại văn bản này đã có nhiều nội dung xác định về: Biên bản họp ngày 08/4/2014; Biên bản bù trừ công nợ ngày 16/7/2014; Công văn số 13531/BTC- QLCS ngày 25/9/2014 của Bộ T3.
- Công văn số 4730/BTC-QLCS ngày 24/4/2018 của Bộ T3 có quan điểm: “ Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, bảo vệ vốn và tài sản Nhà nước mà Tổng công ty L3- Công ty cổ phầT2 là cơ quan đại diện, Bộ T3 đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST...."
- Tại Kết luận thanh tra số 1452/KL-TTCP ngày 21/8/2020 của Thanh tra Chính phủ (Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận được trong quá trình thụ lý, giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm) xác định: “12 gian tầng 1 số 67 Ngô Thì N là của Tổng công ty L3; Việc ngày 13/02/2007, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H6 thực hiện thủ tục đổi tên trên GCNQSDĐ số X968709 cấp ngày 24/12/2003 sau khi cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước (Công ty T2) sang Công ty CP T2 là vi phạm pháp luật về đất đai.”
14
-
Tại Công văn số 2413/BNN-QLDN ngày 27/4/2021, Bộ N3 xác định: “ Dựa vào các cơ sở tài liệu của các cơ quan có thẩm quyền, các tài liệu hợp pháp của Tổng công ty L3 trước kia, nay là Tổng công ty L3 – Công ty cổ phần T2 đề nghị: UBND Thành phố H cấp GCNQSD nhà, đất cho Tổng công ty L3 – Công ty cổ phần theo đúng quy định pháp luật;
- Đề nghị TAND Thành phố Hà Nội quyết định giữ nguyên quyền sở hữu hợp pháp, quản lý và sử dụng của Tổng công ty đối với 343,04 m2 diện tích sàn 12 gian tầng 1 tại nhà 67 N...
- Đề nghị TAND cấp cáo tại Hà Nội xem xét quyết định về quyền sở hữu....... của Tổng Công ty L3 tại nhà 67 N..
- Việc bảo vệ tài sản nêu trên của Tổng công T1 còn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, vì Tổng công T1 hiện có 51% vốn Nhà nước..”
-
Công văn số 698/UBQLV-NN ngày 10/5/2021 của Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp có quan điểm: “.. với vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại Tổng công ty, trên nguyên tắc bảo toàn vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, Ủy ban đề nghị Q1 tòa :
- - Tiếp tục xem xét các ý kiến và các văn bản của các Bộ, ngành liên quan đã được nêu tại các văn bản số 61/UNQLV- NN ngày 20/02/2020.
- - Xem xét, tiếp nhận các chứng cứ hợp pháp vủa Tổng công ty đã nêu tại Văn bản số 307/TCT-PCKSNB kèm theo tài liệu để bổ sung chứng cứ mới, trong đó có các nội dung Kết luận của Thanh tra Chính phủ số 1452/KL-TTCP ngày 21/8/2020 và Thông báo số 238/TB-TTCP ngày 09/02/2021 về việc chấp hành pháp luật..."
Như vậy, các văn bản của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Thanh tra chính phủ; Bộ T3; Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; UBND Thành phố H; Sở tài chính Thành phố H6; ý kiến liên ngành tại văn bản số 5936/STC-QLCS ngày 13/10/2014 đều đề nghị Tòa án căn cứ các văn bản của Bộ N3 để xác định 12 gian tầng 1 số 67 Ngô Thì Nhậm thuộc quyền sở hữu Nhà nước do Tổng công ty L3. Trong khi đó Bộ N3 cung cấp các tài liệu chứng cứ và xác định: 12 gian tầng 1 số 67 N là của Tổng công ty L3 thuộc tài sản của Nhà nước.
Mặc dù: Nguyên đơn cho rằng tài liệu khi tiến hành cổ phần hóa Công ty T2 thể hiện toàn bộ nhà 03 tầng tại số F N đã được dựa vào giá trị doanh nghiệp (giá trị Công ty Tô) để tiến hành cổ phần hóa theo STT 3 phần I mục A Bảng kiểm kê tài sản để xác định giá trị cổ phần hóa của công ty T2 ghi: “nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N, diện tích 1158,9m²” và GCNQSDĐ số X968709 do UBND Thành phố H cấp ngày 24/12/2003 cho Công ty T2 và ngày 02/7/2007 Sở H6 ký Hợp đồng thuê đất số 173-07/HĐTĐTN với Công ty T2 thì 12 gian tầng 1 số 67 Ngô Thì Nhậm là của Công ty CP T2. Tuy nhiên: Báo cáo tài chính của Công ty T2 năm 1999 đã ghi giảm tài sản “tầng 1 nhà 67 Ngô Thì N (điều động tài sản
15
của Tổng công ty)” cho đến năm 2004 chưa hề có bất cứ điều chỉnh nào về việc tăng lại giá trị tài sản là 12 gian nhà tầng 1 khi cổ phần hóa.
-
- Tại mục A bảng kiểm kê và xác định giá trị tài sản cửa hàng kho tàng vật kiến trúc ngày 31/12/2003 của Công ty T2 lập xác định Nhà 67 Ngô Thì N là 131.071.000 đồng. Trong khi đó Bảng kiểm kê và xác định tài sản khi cổ phần hóa ngày 31/12/2003 thể hiện:
(Nguyên giá nhà 3 tầng 67 Ngô Thì Nhậm) (Nguyên giá tầng 1 nhà 67 Ngô Thì Nhậm) Nguyên giá tầng 2 + tầng 3 nhà 67 Ngô Thì Nhậm 587.294.000 đồng 456.223.000 đồng 131.071.000 đồng
Tại phần 2 mục C khẳng định: “Về tài sản của Tổng công ty L3 tại số F N được xác định theo Biên bản số 1033HĐQT/KTTC/BB ngày 06/9/2004 về việc xác định phân chia và thống nhất quyền quản lý và sử dụng nhà số F N”.
Mặt khác: Chính Công ty T2 đã gửi Công văn số 433CT/KTT-CV ngày 27/10/1999 đến Chi cục thuế quận H với nội dung: “Căn cứ sơ đồ và diện tích đất của Tầng 1 nhà 67 Ngô Thì N, Công ty T6 đề nghị Chi cục thuế Quận H trực tiếp thu tiền thuê đất của Tổng công ty L3 và giảm trừ thu tiền thuê đất của Công ty T2 là 376,2m² kể từ ngày 01/07/1999 trở đi (gồm 12 gian theo bản thiết kế mặt bằng xây dựng)”. Từ năm 1999 tới nay, Tổng công ty L3 nộp thuế và quản lý sử dụng liên tục tầng 1 nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N (Thể hiện tại văn bản số 5936/STC-QLCS ngày 13/10/2014 của Sở tài chính Thành phố H6).
Không có tài liệu chứng cứ nào xác định cơ quan chủ quản là Tổng công ty L3 đã điều động 12 gian tầng 1 nhà số F phố N có diện tích 343,04m² trả lại cho Công ty T2. Đồng thời cũng không có bất cứ báo cáo nào với ban chỉ đạo cổ phần hóa về việc tăng (chuyển lại) 12 gian tầng 1 nhà số F N, trên diện tích đất 343,04m² cho Công ty T2, Công ty CP T2 không cung cấp được bất cứ báo cáo tài chính nào ghi tăng tài sản của mình đối với là 12 gian tầng 1 nhà 67 N.
Đối chiếu với quy định tại các Điều: 169,170,256,260 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp) và các Điều: 163,165,166,170,184,186,221 Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án, xét xử phúc thẩm). Có đủ căn cứ xác định: Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp với pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP T2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần.
2.2. Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty CP T2. Hội đồng thấy:
Như nhận định về kháng cáo của Tổng công ty L3 có đủ căn cứ xác định: 12 gian tầng 1 nhà số F phố N trên diện tích 343,04m² là tài sản Nhà nước đã được Tổng công ty L3 điều động về Văn phòng Tổng Công ty L3 quản lý, sử dụng theo Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999. Văn phòng Tổng Công ty L3 đã nhận, quản lý sử dụng từ ngày 01/7/1999 cho tới nay. Không có
16
tài liệu chứng cứ nào xác định Tổng công ty L3 đã điều động trả lại cho Công ty T2. Không có bất cứ báo cáo nào với ban chỉ đạo cổ phần hóa về việc tăng (chuyển lại) 12 gian tầng 1 nhà số F N, trên diện tích đất 343,04m² cho Công ty T2 hay Công ty CP T2.
Mặc dù Công ty CP T2 cho rằng: Khi tiến hành cổ phần hóa Công ty T2 thì toàn bộ nhà 03 tầng tại số F N đã được dựa vào giá trị doanh nghiệp (giá trị Công ty T6) để tiến hành cổ phần hóa. Tuy nhiên: Văn bản số 8759/UBND- KT ngày 12/11/2014 và Văn bản số 1082/UBND- KT ngày 12/02/2015 của UBND Thành phố H do Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp Công ty CP T2 xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện “Cơ sở nhà đất tại số F N.......UBND Thành phố H chưa xem xét thỏa thuận phương án sử dụng đất khi thực hiện cổ phần hóa”. Đồng thời đại diện theo pháp luật của nguyên đơn đã thừa nhận: Công ty CP T2 có văn bản gửi Tổng công ty L3 với đề nghị: “Diện tích 343m² tầng 1 của nhà 3 tầng 67 Ngô Thì N hiện Tổng công ty L3 đang sử dụng sẽ được dịch chuyển về phía Nam, sát ranh giới đất của Công ty D1 và vẫn đảm bảo diện tích 343m² để Tổng công ty sử dụng. Nếu Công ty và Tổng công ty L3 cùng thống nhất các nội dung trên thì hai bên sẽ ký Biên bản và dừng việc tranh chấp tại Tòa án”. Mặc dù theo đơn khởi kiện nguyên đơn đề nghị buộc bị đơn phải thanh toán, bồi thường 23.563.283.600 đồng. Nhưng nay xác định đối trừ khoản Tổng công ty L3 đã nộp thuế và chi phí quản lý kể từ khi được bàn giao 12 gian nhà theo Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 đến nay nên chỉ yêu cầu bồi thường 11.216.059.096 đồng.
Có đủ căn cứ xác định kể từ khi có Quyết định số 775/TCT/KTTC-QĐ ngày 12/6/1999 thì 12 gian tầng 1 nhà số F N, trên diện tích đất 343,04m² chưa được chuyển lại cho Công ty T2 hoặc là tài sản đã được xác định là vốn cổ phần hóa thuộc Công ty CP T2. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Công ty CP T2 đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Tổng công ty L3.
Đối với kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử không buộc Công ty CP T2 phải chịu án phí dân sự. Tuy nhiên Công ty CP T2 không thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự theo quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận.
Việc Công ty CP T2 đề nghị ngừng phiên tòa để hòa giải theo nội dung Văn bản số 50/LSHN- HĐQT ngày 16/8/2024, bị đơn không đồng ý hòa giải. Kể từ khi thụ lý lại vụ án; Tòa án đã nhiều lần mở phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã nhiều lần xin hoãn phiê tòa để hỏa giải nhưng cho đến nay vẫn không thể hòa giải được. Do đó không có căn cứ chấp nhận, các bên có quyền tiếp tục hòa giải, thỏa thuận tại thời điểm thi hành án theo quy định pháp luật.
2. 3. Về Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 379/2018/HĐHTKD:
Công ty D2 hợp tác kinh doanh tại 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 N với Tổng công ty L3 các bên đều xác định: Từ thời điểm hợp tác kinh doanh đến nay hai bên vẫn đang hợp tác kinh doanh ổn định, không xảy ra tranh chấp. Như
17
phân tích nhận định trên; Hội đồng xét xử phúc thẩm đã xác định 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 N vẫn thuộc quyền quản lý sử dụng của Tổng công ty L3. Các bên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về quyền lợi, nghĩa vụ của Hợp đồng hợp tác. Trường hợp Công ty D2 và Tổng công ty L3 có tranh chấp về Hợp đồng này có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.
[3].Về án phí:
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1.1. Công ty CP T2 yêu cầu buộc Tổng công ty L3 phải trả lại 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 N theo biên bản định giá do cấp sơ thẩm tiến hành định giá ngày 13/7/2016 (Tại cấp phúc thẩm các đương sự không đề nghị định giá lại tài sản) trị giá 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 Ngô Thì N là 1.182.870.00 đồng và phải thanh toán 11.216.059.096 đồng về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác 12 gian tầng 1 của nhà 3 tầng số 67 Ngô Thì N (Tổng trị giá yêu cầu là 12.398.929.906 đồng) không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm [ 112.000.000 đồng + 0,1%(12.398.929.906 đồng – 4.000.000.000 đồng)] là 120.398.930 đồng.
3.1.2. Tổng công ty L3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Về án phí phúc thẩm. Do sửa án dân sự sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
3.3. Về tạm ứng án phí các đương sự đã nộp. Được đối trừ với nghĩa vụ án phí phải nộp hoặc hoàn trả cho đương sự không phải chịu án phí dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ về TAND quận Hai Bà Trưng xét xử lại theo trình tự sơ thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần T2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 05/02/2018, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và quyết định cụ thể như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T2 về việc yêu cầu Tòa án buộc Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần T2 cho Công ty cổ phần T2 quyền sở hữu diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) của nhà 3 tầng nhà số F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội và buộc Tổng công ty L3-
18
Công ty cổ phần phải thanh toán bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần T2 số tiền 11.216.059.096 đồng.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của Tổng công ty L3 - Công ty cổ phần.
- Xác định Tổng công ty L3 – Công ty cổ phầT2 có quyền được tiếp tục sở hữu diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) của nhà 3 tầng số F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Tổng công ty L3 - Công ty cổ phầT2 có quyền, nghĩa vụ chủ động liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thuê diện tích đất và đề nghị được điều chỉnh là chủ sử dụng đất do được quyền thuê chung diện tích đất tương ứng với diện tích 343,04m² nhà (12 gian tầng 1) của nhà 3 tầng số F phố N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội đã được xác định quyền sở hữu tại điểm 2.1 khoản 2 Quyết định của bản án tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X968709 do UBND Thành phố H cấp cho Công ty T2 ( Đã đính chính: Người sử dụng đất được đổi là Công ty cổ phần T2 ngày 13/02/2007 ) theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Diện tích nhà được quyền sở hữu và diện tích đất được thuê theo điểm 2.1 và điểm 2.2 khoản 2 Quyết định của bản án giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 trong sơ sơ đồ kèm theo bản án.
-
Về án phí:
- Buộc Công ty cổ phần T2 phải chịu 120.398.930 đồng án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Được đối trừ với 72.906.625 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/00127 ngày 18/01/2016; số AC/2015/0002208 ngày 29/12/2016 và số AC/2015/0003595 ngày 09/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng. Còn phải nộp tiếp 47.492.305 (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn,ba trăm linh lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Tổng công ty L3- Công ty cổ phầT2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Được hoàn trả lại 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AC/2015/0002922 ngày 25/7/2017 và số AC/2015/0003596 ngày 09/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
19
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Hoàng |
20
Bản án số 681/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp qsd đất và tài sản gắn liền với qsd đất
- Số bản án: 681/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất và tài sản gắn liền với QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Công ty cổ phần T2 Bị đơn: Tổng công ty L3
