|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 680/2024/HS-PT Ngày 16/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười;
- Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Đắc Minh;
- Ông Lê Hoàng Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 365/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Huỳnh Nhật Q, Huỳnh Thành T do có kháng cáo của ông Lê Phi H là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Nhật Phương V, Anh Lê Minh K, chị Lê Thảo N là người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Các bị cáo bị kháng cáo:
- Huỳnh Nhật Q; Sinh năm 1998, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Phú Đ, sinh năm 1975 (đã chết) và bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1977; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và có thêm 01 người em cùng mẹ khác cha; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 25/7/2022, chuyển tạm giam ngày 28/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Huỳnh Thành T; Sinh năm 1966 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: lớp 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1920 (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1924 (đã chết); Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; có vợ tên Bùi Thị Đ1, sinh năm 1966 và có 02 con: lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997.Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- - Bị hại: Ông Lê Nguyên V1, sinh năm 1974 (chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Nhật Phương V2, sinh năm 1976; Em Lê Minh K, sinh năm 2005 và em Lê Thảo N, sinh năm 2001; Địa chỉ thường trú: 178A ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Địa chỉ tạm trú: Số A S, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phi H, sinh năm 1970; Địa chỉ tạm trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- - Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Huỳnh Nhật Q: Các Luật sư Vy Thị N1 (có mặt), Nông Thị K1 (có mặt) của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- - Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Huỳnh Thành T: Luật sư Trần Quốc T2 là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp bị hại: Các Luật sư Trần Văn T3 (có đơn xin vắng mặt), Nguyễn Thị L (có mặt), Nguyễn Thế V3 (có mặt) là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 44 phút ngày 25/7/2022, tại nhà của Huỳnh Nhật Q ở tổ A, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai gồm có Q; Huỳnh Minh T4, sinh năm 1998; Hồ Huỳnh D, sinh năm 1996; Trần Văn T5, sinh năm 1992 cùng cư trú tại ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đang ngồi nói chuyện vì vừa làm lễ xả tang (đám giỗ) cho bà nội của Q thì Huỳnh Thành T, sinh năm 1966, thường trú tổ A, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (là bác ruột của Q) đi bộ đến trong tình trạng đã say rượu rồi vào bên trong nhà bà Huỳnh Thị Bạch T6, sinh năm 1963, cư trú tại tổ A, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (cô ruột của Q) kế bên nhà Q (nhà của bà T6 là nơi thờ cúng tổ tiên của gia đình). Sau khi vào bên trong nhà thờ của gia đình, ông T dùng tay hất bông, trái cây trên bàn thờ của gia đình và chửi bới Q. Khi bị ông T chửi, Q liền chạy vào trong nhà lấy 01 thanh sắt tròn bằng kim loại, dài khoảng 01 mét chạy qua đánh 03 cái vào bụng của ông T nhưng không gây thương tích thì được mọi người trong gia đình can ngăn nên cả hai cùng mọi người trong gia đình ngồi trước hiên nhà để nói chuyện. Trong lúc hai bên đang nói chuyện, ông T lấy trong túi quần ra 01 gậy ba khúc bằng kim loại đánh Q thì bị Q dùng tay đánh lại nhưng không ai bị thương tích và tiếp tục được mọi người can ngăn. Lúc này, ông T nói “Mày đợi tao 15 phút nữa đi” rồi đi về nhà (cách nhà Q khoảng 50 mét) gọi điện thoại cho ông Lê Nguyên V1, sinh năm 1974, tạm trú tại ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai kể cho ông V1 nghe về việc bị Q đánh rồi nhờ ông V1 tìm người đến đánh Q. Nghe vậy, ông V1 mang theo 01 gậy ba khúc bằng kim loại và 01 khẩu súng ngắn tự chế, màu đen, dài 13cm, bên trong hộp tiếp đạn có 03 viên đạn bỏ trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đến
nhà ông T thì được bà Bùi Thị Đ2, sinh năm 1966 (vợ ông T) can ngăn và nói “Chuyện gia đình để gia đình tự giải quyết”. Sau khi nghe bà Đ2 nói vậy, ông T cũng nói với ông V1 “Đi về đi, đây là chuyện gia đình để gia đình tự giải quyết” nhưng ông V1 nói “Để em xuống giải huề cho anh” và ông V1 vẫn yêu cầu ông T lên xe mô tô để chở ông T đến nhà Q nói chuyện.
Đến 18 giờ 26 phút cùng ngày, ông V1 cùng với ông T đến nhà Q, lúc này cửa cổng đang đóng nên ông V1 dùng chân đạp bung cửa để đi vào. Lúc này, Q đang ngồi trên ghế trước cửa nhà nhìn thấy ông T và ông Vũ đ cửa xông vào, thì Q đứng dậy đi vào đứng sau cửa chính trong phòng khách. Lúc này, ông V1 nói với ông T “Thằng nào uýnh, thằng nào uýnh”, thì ông T liền chỉ về phía của Q và nói “Thằng đó đó”. Nghe vậy, ông Vũ t về phía Q thì được anh Trần Văn T5 (là anh họ của Q) đi đến can ngăn, nhưng ông V1 và ông T đẩy anh T5 ra. Ông V1 tiếp tục xông đến Q và lấy trong túi quần bên phải ra 01 gậy ba khúc rồi vụt mạnh để cho các khớp tuột ra ngoài thành một cây gậy sắt dài khoảng 62cm. Thấy ông V1 cầm gậy ba khúc xông đến trước cửa nhà (phòng khách) thì Q đứng phía sau cửa nói “Việc gia đình không có liên quan gì đến chú” nhưng ông V1 vẫn xông đến chỗ Q. Q lùi về phía sau và với tay lấy 01 khẩu súng tự chế bằng kim loại, màu đen dài 94cm phía sau cánh cửa rồi cầm khẩu súng trên hai tay, mở chốt an toàn của khẩu súng và hướng khẩu súng về phía trước thẳng về phía ông V1. Khi ông V1 cầm gậy ba khúc xông đến đánh liên tục từ trên xuống dưới người Q thì khẩu súng trong túi quần bên phải của ông Vũ v ra ngoài rơi trên sàn nhà. Thấy vậy, Q vẫn cầm súng trên tay hướng về phía ông V1 và đi giật lùi về phía sau. Ông V1 tiếp tục dùng gậy ba khúc tấn công Q thì bị Q bóp cò súng liên tục 07 phát, trong đó: 06 viên đạn trúng vào người ông V1 làm ông V1 tử vong và 01 viên đạn trúng vào mắt cá chân trái của anh Trần Văn T5 gây thương tích.
Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, Q đến Công an xã L, huyện L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp hung khí gây án.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1575/KL-KTHS ngày 06/9/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ xác định nguyên nhân tử vong của ông Lê Nguyên V1 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Bên ngoài thấy bỏng thủng da vùng bụng xuyên thành sau vùng cùng cụt, bỏng thủng da vùng lưng phải, thủng da vùng cánh tay xuyên hỏm nách, bỏng thủng da trên gối phải, thủng da trong gối phải xuyên kheo chân phải, bỏng da trên gối phải. Giải phẫu thấy tụ máu dưới da vùng bụng, trong ô bụng có máu, đứt rách ngành ngoài động mạch chậu trái; rách tụ máu cơ tứ đầu đùi phải, dưới da-cơ đùi phải thấy mẫu đầu đạn bằng chì. Kết quả vi thể: Xuất huyết, tụ máu rải rác mô liên kết dưới da nơi tổn thương.
- Kết luận: Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương hỏa khí thấu bụng rách động mạch chậu trái./.
Tại Bản kết luận giám định số 4477/KL-KTHS ngày 16/9/2022 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Dấu vết màu nâu (nghi là máu) thu tại hiện trường vụ án là máu người. Phân tích gen (ADN) từ mẫu này được kiểu gen trùng với kiểu gen của nạn nhân Lê Nguyên V1.
Tại Bản kết luận giám định số 4479/KL-KTHS ngày 07/9/2022 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, dài 94cm mà Huỳnh Nhật Q sử dụng để gây án là súng tự chế cỡ nòng 6mm; súng sử dụng để bắn loại đạn cỡ (5,6x15,6)mm. Hiện tại súng có đủ bộ phận chính và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng; 25 viên đạn bằng kim loại, màu vàng là đạn chưa bắn (chưa sử dụng) của loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,6) mm, không phải là đạn quân dụng; Sử dụng khẩu súng bằng kim loại, màu đen, dài 94cm bắn với đạn cỡ (5,6x15,6)mm vào cơ thể người có thể gây thương vong; 07 vỏ đạn là vỏ đạn đã bắn của loại đạn cỡ (5,6x15,6)mm và do khẩu súng bằng kim loại, màu đen, dài 94cm bắn ra; 01 đầu đạn là đầu đạn của loại đạn cỡ (5,6x15,6)mm. Không đủ cơ sở xác định đầu đạn trên có phải được bắn ra từ 07 vỏ đạn đã bắn.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 4214/KL-KTHS ngày 07/07/2023 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Khẩu súng bằng kim loại, màu đen, dài 94cm mà Huỳnh Nhật Q sử dụng để gây án là súng bán tự động (khi lên đạn, sau phát bắn thì súng tự động được nạp đạn), súng không có tính năng bắn liên thanh; Nếu khi bắn và giữ cò, súng không bắn được hết các viên đạn còn lại trong hộp tiếp đạn.
Tại Bản kết luận giám định số 4480/KL-KTHS ngày 24/8/2022 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Khẩu súng ngắn, màu đen, dài 13cm là công cụ hỗ trợ PERFEC TA Mod. FBI 8000. Súng sử dụng để bắn với đạn hơi cay, đạn nổ uy hiếp cỡ (8x20)mm; 03 viên đạn đít đạn ký hiệu WADIE 8mm là đạn chưa bắn. Loại đạn này sử dụng cho một số súng công cụ hỗ trợ cỡ 8mm và khẩu súng PERFEC TA Mod. F; Khẩu súng ngắn và 03 viên đạn thuộc nhóm công cụ hỗ trợ không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng; Sử dụng khẩu súng ngắn 13cm bắn với loại đạn công cụ hỗ trợ cỡ (8x20)mm, đạn nổ tới cơ thể người có thể gây thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1036/TgT/2022 ngày 03/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ tình trạng thương tích của anh Trần Văn T5 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương mẻ xương chày trái; Dị vật cản quang vùng cổ chân trái; Sẹo mắt cá trong chân trái kích thước 0,6x0,6cm; Sẹo mắt cá ngoài chân trái kích thước 0,7x0,7cm.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của nạn nhân Trần Văn T5 là 08% (tám phần trăm);
Vật gây thương tích: Hỏa khí.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Nhật Q, về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Huỳnh Thành T, về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
1. Về tội danh:
- Căn cứ khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật Q phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thành T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Nhật Q 05 (năm) năm tù về tội “Giết người” 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt hai tội là 06 (S) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thành T 01 (một) năm tù. Bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/3/2024.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Huỳnh Thành T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 28/3/2024, Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại Lê Nguyên V1 có ông Lê Phi H làm đơn kháng cáo không đồng ý án sơ thẩm, yêu cầu Tòa phúc thẩm hủy toàn bộ án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có ông Lê Phi H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo Huỳnh Nhật Q; bị cáo Huỳnh Thành T, không có kháng cáo, đồng ý với quyết định án sơ thẩm, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo và xét yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có ông Lê Phi H thấy rằng về tội danh tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, về tội “Giết người” hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Nhật Q là có phần nhẹ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại. Sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Q, đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt bị cáo Q từ 7 năm đến 8 năm tù về tội “Giết người”. Đối với kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt bị cáo Huỳnh Thành T là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phía gia đình bị hại đề nghị xét xử chuyển khung hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
- - Xử bị cáo Huỳnh Nhật Q, về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm c khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “làm chết người”
- - Xử bị cáo Huỳnh Thành T, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Xúi giục người khác gây rối”; cùng với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đồng thời xem xét lại toàn bộ hồ sơ bệnh án của bị cáo Huỳnh Thành T.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Nhật Q cho rằng mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Q là đúng người, đúng tội phù hợp với tính chất, nguyên nhân của hậu quả xuất phát từ lỗi của bị hại V1. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử là có căn cứ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thành T thống nhất với phát biểu của kiểm sát viên, đề nghị giữ nguyên mức án đối với bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Phi H là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Nhật Phương V, Anh Lê Minh K, chị Lê Thảo N là người đại diện hợp pháp của bị hại được làm trong hạn luật định và hợp lệ, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Huỳnh Nhật Q, Huỳnh Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã quy kết, trình bày của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo Huỳnh Nhật Q, Huỳnh Thành T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Phi H; Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.
-
[3] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là ông Lê Phi H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
-
[3.1] Giữa bị cáo Huỳnh Nhật Q và bị hại Lê Nguyên V1 không quen biết nhau và không có mâu thuẫn gì, ông V1 chỉ được ông T nhờ đến để giải quyết mâu thuẫn trước đó giữa ông T và Q. Nhưng khi đi giải quyết mâu thuẫn giùm ông T, ông Lê Nguyên V1 thể hiện có hành vi côn đồ, mang theo hung khí là gậy sắt ba khúc, đặc biệt mang theo cả khẩu súng ngắn tự chế. Việc này thể hiện ông V1 là người chủ động, có sự chuẩn bị từ trước, mang theo hung khí nguy hiểm đến đánh Q. Khi đến nhà bị cáo Q đã đóng cửa rào, ông Lê Nguyên V1 đạp cửa đi vào, dùng gậy ba khúc tấn công liên tiếp vào người bị cáo Q và dồn vào đến cuối tường của phòng khách, nên bị cáo Q đã có hành vi dùng súng tự chế có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng bắn làm chết người bị hại và làm bị thương anh T5.
Hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Q còn có hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
- [3.2] Bị cáo Huỳnh Thành T có hành vi đập đồ và đánh nhau với bị cáo Q đồng thời rủ người bị hại đi đánh bị cáo Q, là nguyên nhân gây ra vụ án gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
-
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Q đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Q được trại tạm giam nhận xét tốt trong quá trình giam giữ đã kịp thời báo cáo cho cán bộ Quản giáo nhiều tin tức có giá trị, trong vụ án người bị hại có một phần lỗi lớn khi đến nhà bị cáo Q đã tấn công bị cáo Q quyết liệt, bị cáo đầu thú, ông nội của bị cáo là ông Huỳnh Văn C có công cách mạng, cha của bị cáo Q đã mất, mẹ của bị cáo lập gia đình khác hoàn cảnh gia đình neo đơn bị cáo sống với bà nội từ nhỏ, đã được gia đình bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa Luật sư của bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đưa bị hại V1 đi cấp cứu là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Huỳnh Thành T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cha của bị cáo có công cách mạng, bị cáo T bị bệnh thận u ác, phì đại tiền liệt tuyến hiện tại mới phẩu thuật điều trị cắt thận trái, niệu quản trái và một phần bàng quang, bơm hóa chất đi lại khó khăn, sức khỏe yếu, hiện tại đang nằm viện để điều trị là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Huỳnh Thành T có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách theo quy định pháp luật thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo chữa bệnh.
- [3.4] Xét yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là ông Lê Phi H thấy rằng, Như đã phân tích ở các mục [3.1], [3.2], [3.3] nêu trên về tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về phần hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để áp dụng. Tuy nhiên, đối với bị cáo Huỳnh Nhật Q mặc dù bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt cho bị cáo là có phần nhẹ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo về phần này, tăng hình phạt đối với bị cáo Q. Về kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Thành T, thấy rằng khách thể của tội phạm là xâm phạm trật tự công cộng nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo trên. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại mức án một năm tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Huỳnh Thành T.
-
[3.1] Giữa bị cáo Huỳnh Nhật Q và bị hại Lê Nguyên V1 không quen biết nhau và không có mâu thuẫn gì, ông V1 chỉ được ông T nhờ đến để giải quyết mâu thuẫn trước đó giữa ông T và Q. Nhưng khi đi giải quyết mâu thuẫn giùm ông T, ông Lê Nguyên V1 thể hiện có hành vi côn đồ, mang theo hung khí là gậy sắt ba khúc, đặc biệt mang theo cả khẩu súng ngắn tự chế. Việc này thể hiện ông V1 là người chủ động, có sự chuẩn bị từ trước, mang theo hung khí nguy hiểm đến đánh Q. Khi đến nhà bị cáo Q đã đóng cửa rào, ông Lê Nguyên V1 đạp cửa đi vào, dùng gậy ba khúc tấn công liên tiếp vào người bị cáo Q và dồn vào đến cuối tường của phòng khách, nên bị cáo Q đã có hành vi dùng súng tự chế có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng bắn làm chết người bị hại và làm bị thương anh T5.
- [4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là ông Lê Phi H tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Nhật Q, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm, về tăng hình phạt của bị cáo Huỳnh Nhật Q.
- [5] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [6] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo ông Lê Phi H là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Nhật Phương V, Anh Lê Minh K, chị Lê Thảo N là người đại diện hợp pháp của bị hại; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về trách nhiệm hình sự tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Nhật Q.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
- 1.1. Căn cứ khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật Q phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- 1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thành T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
2. Về hình phạt:
- 2.1. Áp dụng khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Nhật Q 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người” 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Nhật Q để đảm bảo thi hành án.
- 2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thành T 01 (một) năm tù. Bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/3/2024.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Huỳnh Thành T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.
3. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án Hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 680/2024/HS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (vụ án giết người, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 680/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vụ án Giết người, Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
