|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2024.
“V/v: Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được và ông Đào Xuân Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1979, có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 13/4/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Tôi và ông Dương Văn T tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện C, tỉnh Cà Mau vào ngày 14/8/2003. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2023 mâu thuẫn bắt đầu phát sinh. Nguyên nhân là do tôi đi làm công nhân phải đi làm ca đêm nên ông T ghen tuông, không cho tôi đi làm nhưng không đi làm thì không có thu nhập nên tôi vẫn đi, từ đó vợ chồng hay cãi nhau, đánh nhau, sau đó khoảng hai tháng thì tôi phát hiện ông T có quan hệ không rõ ràng với người phụ nữ khác, tôi đã khuyên bảo ông T nhưng ông T không thay đổi nên tôi dọn ra ngoài sống ly thân từ tháng 3/2024 cho đến nay. Qua thời gian sống ly thân chúng tôi không còn quan tâm, lo lắng gì cho nhau, nay nhận thấy tình cảm đối với ông T không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn nên tôi mong Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 03 con chung là Dương Cẩm T1, sinh năm 2004; Dương Tuấn V, sinh ngày 09/01/2008 và Dương Văn T2, sinh ngày 10/12/2012. Bà M yêu cầu được nuôi con Dương Văn T2; giao con Dương Tuấn V cho ông T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; Riêng con Dương Cẩm T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/9/2024 bị đơn ông Dương Văn T trình bày:
Tôi và bà Nguyễn Thị M tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Cà Mau vào ngày 14/8/2003. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà M có quan hệ với người đàn ông khác bên ngoài nên không còn chăm lo cho con và gia đình, đến năm 2021 thì bà M dọn ra ngoài sống riêng cho đến nay. Nay ông T đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn.
Về con chung: Thống nhất có 03 con chung là Dương Cẩm T1, sinh năm 2004; Dương Tuấn V, sinh ngày 09/01/2008 và Dương Văn T2, sinh ngày 10/12/2012. Thống nhất giao con Dương Văn T2 cho bà M nuôi dưỡng; ông T nuôi dưỡng con Dương Tuấn V, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; Riêng con Dương Cẩm T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, cho bà M được ly hôn với ông Dương Văn T; Giao con Dương Tuấn V, sinh ngày 09/01/2008 cho ông T nuôi dưỡng, giao con Dương Văn T2, sinh ngày 10/12/2012 cho bà M nuôi dưỡng. Về tài sản và vay, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Án phí Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” do bà Nguyễn Thị M khởi kiện, bị đơn ông Dương Văn T cư trú tại ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, bị đơn ông Dương Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà M, ông T đã có lời khai nên việc vắng mặt là hợp lệ. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Dương Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Cà Mau, vào sổ đăng ký kết hôn số 584, ngày 14/8/2003. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, bà M có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T đúng quy định của pháp luật.
Xét tình trạng hôn nhân của bà M và ông T, cả hai ông, bà đều trình bày có mâu thuẫn trầm trọng, sống không chung thủy, nghi ngờ nhau có người khác ngoài vợ - chồng nên không còn lòng tin đối với nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, gây áp lực cho nhau, bà M đã dọn ra ngoài sống riêng một thời gian, hiện cả hai ông, bà đều không còn tình cảm yêu thương nhau, vì vậy cùng thống nhất ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của bà M và ông T không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của bà M, cho bà M được ly hôn với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà M và ông T có 03 con chung là Dương Cẩm T1, sinh năm 2004; Dương Tuấn V, sinh ngày 09/01/2008 và Dương Văn T2, sinh ngày 10/12/2012.
Bà M, ông T cùng thống nhất về việc nuôi con và phù hợp với nguyện vọng của các con, cụ thể như sau: Bà M nuôi con Dương Văn T2; Ông T nuôi con Dương Tuấn V, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con; Riêng con Dương Cẩm T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử nghi nhận.
[2.3]. Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Dương Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 584, ngày 14/8/2003 do UBND xã V, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp).
- Về con chung: Giao con Dương Văn T2, sinh ngày 10/12/2012 cho bà Nguyễn Thị M; giao con Dương Tuấn V, sinh ngày 09/01/2008 cho ông Dương Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001293 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà M đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Lê Thu Huệ |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
