Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày: 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Duy Thấm;

Ông Võ Văn Hoa Vinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quốc H, sinh năm 1991 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Số A, L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị G; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại: Ông Đặng Văn T (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Ánh N1, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Bà Đặng Thị Thúy N2, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
  3. Ông Đặng Ngọc T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

Bị đơn dân sự: Chị Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 00 phút, ngày 07/4/2024, Lê Quốc H có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số: 51C- 469.54 lưu thông trên đường Đ từ hướng thị trấn T về hướng xã T, huyện T. Khi đến đoạn đường thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, H thiếu quan sát phía trước, không làm chủ tay lái nên xe ô tô tải do H điều khiển đã đụng vào phía sau xe mô tô biển số 70H2- 2335 do ông Đặng Văn T, sinh năm 1959, ngụ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển cùng chiều phía trước. Sau khi gây tai nạn cho ông T, xe ô tô tải do H điều khiển bị mất lái di chuyển vào bên lề phải theo hướng đi rồi lật ngã va chạm vào mái hiên nhà của anh Nguyễn Văn Đ và đè lên 02 xe mô tô của ông Nguyễn Văn T2. Tai nạn xảy ra làm cho ông T bị tử vong, gây hư hỏng mái hiên nhà của anh Đ và 02 xe mô tô của ông T2.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh Lê Quốc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Kết luận giám định tử thi số 696/KLGĐTT-KTHS, ngày 04/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn T3 do bị đa chấn thương nặng; kết luận khác: Không có.

Đối với tài sản của anh Đ và anh T2 bị hư hỏng, do giá trị không lớn nên anh Đ, anh T2 tự thỏa thuận với H về giá trị bồi thường, không yêu cầu Cơ quan điều tra giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKSTC ngày 10/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Quốc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo theo quy định của pháp luật; cấm bị cáo hành nghề Tài xế trong thời hạn 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, ông T1, bà N2, chị D không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 06 giờ ngày 07/4/2024, bị cáo Lê Quốc H có Giấy phép lái xe hạng C đúng quy định, điều khiển xe ô tô biển số 51C-469.54 lưu thông trên đường T từ hướng thị trấn T đi hướng xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo thiếu quan sát do ngủ gật, không làm chủ tay lái nên đã đụng vào phía sau xe mô tô biển số 70H2-2335 do ông Đặng Văn T đang điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Tai nạn xảy ra làm ông T tử vong do đa chấn thương nặng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ, làm chết 01 người nên phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền 130.000.000 đồng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên với hành vi phạm tội như trên của bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; đồng thời cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Cần cấm bị cáo hành nghề Tài xế trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

[7.1] Gia đình bị hại đã nhận số tiền 130.000.000 đồng do bị cáo bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm cần ghi nhận.

[7.2] Ông T1 đã nhận lại xe mô tô biển số 70H2-2335; chị D đã nhận lại xe ô tô biển số 51C-469.54 cần ghi nhận.

[7.3] Ông T2 đã nhận lại 02 xe mô tô và nhận số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo bồi thường; anh Đ đã nhận số tiền 15.000.000 đồng do bị cáo bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm cần ghi nhận.

[7.4] Đối với Giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Quốc H, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Quốc H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Quốc H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo này.

  2. Căn cứ vào khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự: Cấm bị cáo Lê Quốc H hành nghề Tài xế trong thời hạn 01 (một) năm tính từ ngày Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
  3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    1. Ghi nhận gia đình bị hại đã nhận số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi ba triệu) đồng do bị cáo Lê Quốc H bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
    2. Ghi nhận ông Nguyễn Văn T2 đã nhận lại 02 xe mô tô và nhận số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng do bị cáo Lê Quốc H bồi thường; anh Nguyễn Văn Đ đã nhận số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng do bị cáo Lê Quốc H bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
    3. Ghi nhận ông Đặng Ngọc T1 đã nhận lại xe mô tô biển số 70H2-2335 và chị Lê Thị Ngọc D đã nhận lại xe ô tô biển số 51C-469.54.
    4. Trả lại cho bị cáo Lê Quốc H Giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Quốc H, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

      (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Quốc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, ông T1, chị D biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà N1, bà N2, ông T2, anh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND H.Tân Châu;
  • - CCTHA-DS H. Tân Châu;
  • - CQĐT Công an H. Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA phạt tù;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger