|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: .../2024/HS-ST
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Trâm
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Sơn Hải
- Ông Ma Quốc Thể
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Bàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam công an tỉnh T xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 7 năm 2024;
Nguyễn Duy T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1993 tại huyện S, tỉnh T; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1967 và bà Thân Thị T1, sinh năm 1971; vợ: Phạm Thị P, sinh năm 1991; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T4 (Có mặt).
- Người bị hại: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh T (Có mặt).
- Những người làm chứng:
- + Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện S, tỉnh T (Có mặt).
- + Anh Nông Quang T2, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện S, tỉnh T (Có mặt).
- + Anh Vũ Văn M, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh T (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 10/12/2023, Nguyễn Duy T cùng với Nông Quang T2 (em rể T), Vũ Văn M (anh rể T) và Vũ Văn C, Lăng Văn Q (sinh năm 1993, trú tại thôn C, xã P, huyện S, tỉnh T); Nguyễn Hoàng Hoài T3 (sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã M, huyện S, tỉnh T) cùng nhau đi uống bia tại quán bia “Tấm Tấm” của chị Hoàng Thị Thu H thuộc thôn T, xã P, huyện S, tỉnh T.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị L (vợ của T2) đến quán bia tìm T2. Vừa vào đến quán, L chửi T2 “Đ. mẹ mày làm khổ tao thế”. Sau đó, L cầm một lon bia đã uống hết để ở bàn bên cạnh rồi ném vỏ lon bia vào tường chỗ T2 ngồi, nhưng không ai nói gì cả. L cầm ống điếu bằng tre có sẵn trong quán giơ lên vụt liên tiếp 04 phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào ca nhựa đựng bia, bát, đĩa trên mặt bàn làm các đồ vật ở đó vỡ và rơi xuống đất. L tiếp tục chửi T2: “Mày làm khổ tao quá”, T2 không nói gì. Thấy vậy C mới hỏi T “Đ. mẹ con đĩ này ở đâu” nhưng T không nói gì. C ngồi ở ghế phía bên tay trái của T và tiếp tục hỏi T “Con đĩ này ở đâu ra”, T liền đứng dậy, đối diện cách C khoảng 30cm, dùng tay phải cầm một chiếc cốc thủy tinh màu trắng đang để trên bàn dùng để uống bia cao 08cm, đường kính miệng cốc khoảng 06cm giơ lên đập một phát theo hướng chéo từ sau ra trước, từ phải sang trái trúng vào vùng đầu trán phía trước bên trái của C làm chiếc cốc vỡ ra nhiều mảnh rơi xuống nền quán. Bị T đập cốc vào đầu bất ngờ, C đứng dậy đẩy T ra, nhưng T tiếp tục lao vào ôm, bóp cổ C. Thấy vậy, M lao vào can ngăn T và C. Lúc này L lao đến cách chỗ M khoảng 01m, và cầm ống điếu giơ lên vụt một phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vùng cánh tay phải của M. Bị vụt bất ngờ, M bỏ T ra rồi tiến sát đến chỗ L tát vào mặt của L một phát. Sau đó M dí tay vào cổ L đẩy L ra. Thấy vậy, T2 từ phía sau lao vào dùng tay không đấm một phát vào mặt của anh M; T cũng lao vào ôm M làm cả hai ngã ra nền quán. Sau đó, L tiếp tục cầm ống điếu lao vào vụt nhiều phát vào lưng, vai của M nhưng M đang giằng co với T nên không đánh lại L. T và M tiếp tục giằng co, kéo nhau ra phía ngoài đường Quốc lộ 37, L tiếp tục cầm ống điếu đuổi theo vụt vào lưng của anh M khiến ống điếu rơi xuống đất. Sau đó mọi người vào can ngăn nên không ai đánh nhau nữa. C được đưa vào Phòng khám Đ khu vực S để sơ cứu và chuyển đến Bệnh viện Đ1, huyện Đ, tỉnh P để điều trị, đến ngày 18/12/2023, C ra viện.
- Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 469/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:
* Kết quả giám định:
- Tụ máu dưới màng cứng thùy trán - đinh - thái dương trái xếp: 11%.
- Chảy máu dưới nhện xếp: 11%.
- Vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh bên trái kích thước nhỏ xếp: 01%.
- Vết thương phần mềm vùng trán đỉnh bên trái, kích thước nhỏ xếp: 01%.
- Vết thương phần mềm vùng giữa trán trái kích thước nhỏ xếp: 03%.
- Vết thương phần mềm cách vết thương vùng trán trái 01cm kích thước nhỏ xếp: 03%.
- Đám sây sát da nông, không có khả năng để lại sẹo nên không xếp tỷ lệ phần trăm.
Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày có cạnh gây nên.
* Tỷ lệ tổn thương cơ thể Vũ Văn C tại thời điểm giám định là: 27% (Hai bẩy phần trăm).
* Ngày 27/12/2023, Vũ Văn C đã từ chối giám định bổ sung. Nhất trí với kết quả giám định tại Kết luận số 469 ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T.
Cáo trạng số 43/CT-VKSSD, ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Duy T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Duy T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống điếu bằng tre dài 63,5cm, miệng ống điếu có đường kính 5,2cm được quấn băng dính đen, phần đáy ống điếu đã bị vỡ dập; 11 (mười một) mảnh thủy tinh vỡ trong suốt, có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; 03 (ba) mảnh vỡ bằng sứ màu trắng có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 3 trên hiện trường.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa, xác định bị cáo T là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại tha thiết đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bản thân bị cáo là người thuộc hộ nghèo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là 02 (hai) năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, anh Vũ Văn C là người bị hại xác định anh bị bị cáo T gây thương tích đúng như Cáo trạng truy tố. Tuy nhiên, ngoài bị cáo T anh còn bị chị L dùng điếu cày vụt 03 nhát vào lưng và vào đầu. Do vậy, anh xác định bị cáo T và chị L tổ chức đánh anh, khiến anh tổn hại 27% sức khỏe, trong số 27% sức khỏe anh bị thiệt hại cũng có vết thương do chị L gây nên. Ngoài ra anh C còn khai khi xảy ra sự việc, anh không được nói lời nói thô tục về chị L nên lời khai này của bị cáo T là không đúng sự thực. Trong quá trình điều tra anh không bị ép buộc, mua chuộc, mọi lời khai của anh đều khách quan và hoàn toàn tự nguyện. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh đã được gia đình bị cáo T bồi thường thiệt hại xong trước khi mở phiên tòa nên không có yêu cầu gì thêm, về hành vi của bị cáo anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Những người làm chứng khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của Nguyễn Duy T.
Bản thân bị cáo Nguyễn Duy T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc dùng cốc thủy tinh (hung khí nguy hiểm) đập vào người khác là có khả năng gây thiệt hại đến sức khoẻ của họ nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm hại vào quyền bảo vệ sức khỏe của công dân. Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước, nhưng bị cáo bất chấp lý do dùng 01 chiếc cốc thủy tinh đập 01 phát trúng vào vùng đầu, trán phía trước bên trái của anh C khiến anh C bị thương tích, tổn tại 27% sức khỏe. Hành vi của bị cáo thể hiện sự hung hãn, manh động, coi thường sức khỏe của người khác.
Đối với lời khai của người bị hại Vũ Văn C xác định ngoài bị cáo T gây thương tích cho anh còn có chị L cũng dùng ống điếu đánh anh. Trong 27% sức khỏe anh bị thiệt hại có cả vết thương phía sau đầu do chị L dùng ống điếu gây ra. Do vậy, anh C cho rằng T và L tổ chức gây thương tích cho anh. Ngoài ra anh C còn xác định bản thân anh không được nói lời nói thô tục với chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 469/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể Vũ Văn C tại thời điểm giám định là: 27% (Hai bẩy phần trăm), trong số các vết thương giám định không có vết thương phía sau đầu. Anh C đã được thông báo về kết quả giám định và không có ý kiến gì đối với bản kết luận giám định nêu trên. Đến ngày 27/12/2023, Vũ Văn C có đơn từ chối giám định bổ sung, nhất trí với kết quả giám định tại Kết luận số 469/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đồng thời cam kết tự chịu trách nhiệm về sức khỏe của mình. Mặt khác, bằng lời khai của những người làm chứng và bị cáo, bị hại và các tài liệu có trong vụ án đều có thể khẳng định được T và L không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công từ trước, việc T và L có hành vi đánh bị hại đều là do bột phát. Ngoài ra, lời khai của bị cáo và bị hại có mâu thuẫn đối với nội dung bị hại có hay không có lời nói thô tục đối với chị L không làm ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án.
Từ những nhận định trên cùng với toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 10/12/2023, tại thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nguyễn Duy T đã dùng tay phải cầm 01 chiếc cốc thủy tinh màu trắng (cốc dùng để uống bia cao 08cm, đường kính miệng cốc khoảng 06cm) là hung khí nguy hiểm giơ lên đập 01 phát theo hướng chéo từ sau ra trước, từ phải sang trái trúng vào vùng đầu, trán phía trước bên trái của C. Hậu quả: C bị thương tích, tổn hại 27% (Hai bẩy phần trăm) sức khỏe. Hành vi của T có tính chất côn đồ.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a (dùng hung khí nguy hiểm), và điểm i (có tính chất con đồ) khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự), là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3]. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét toàn diện căn cứ để quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ”; tỉ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe mà bị cáo gây ra cho bị hại (27%) cao gần bằng mức cao nhất (30%) được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Trợ giúp viên pháp lý đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự (02 năm tù) mặc dù thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng chưa thật sự tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Xét nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định (tù có thời hạn) bằng mức khởi điểm trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[5] Về tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác.
* Về tư cách tham gia tố tụng: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách tham gia tố tụng của chị Nguyễn Thị L được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, căn cứ vào toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa có thể xác định được các chị L không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà chỉ là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xác định tư cách tố tụng của chị Nguyễn Thị L là người làm chứng.
* Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại xong. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 ống điếu bằng tre dài 63,5cm, miệng ống điếu có đường kính 5,2cm được quấn băng dính đen, phần đáy ống điếu đã bị vỡ dập; 11 mảnh thủy vỡ thủy tinh màu trong suốt, có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; 03 mảnh vỡ bằng sứ màu trắng có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; Tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 3 trên hiện trường. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- - Bị cáo là người thuộc hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí, do vậy, căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Bị cáo Nguyễn Duy T và người bị hại Vũ Văn C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
* Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị L có hành vi dùng ống điếu vụt nhiều phát trúng người Vũ Văn M; Nông Quang T2 có hành vi đấm một phát trúng mặt của Vũ Văn M; Vũ Văn M có hành vi dùng tay tát một phát trúng vùng cổ, mặt của Nguyễn Thị L; Vũ Văn C có hành vi dùng tay phải đấm trúng đầu của Nguyễn Duy T. Tuy nhiên do M, L và T từ chối giám định thương tích và có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự nên không có căn cứ xử lý hình sự. Cơ quan CSĐT điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an huyện S để xử lý vi phạm hành chính theo quy định; Đối với hành vi đập vỡ 01 ống điếu, 01 đĩa sứ, 02 bát sứ của Nguyễn Thị L tại quán của chị Hoàng Thị Thu H gây thiệt hại 61.100 đồng không cấu thành tội Hủy hoại tài sản quy định tại điều 178 Bộ luật hình sự; Đối với hành vi gây mất trật tự công cộng của Nguyễn Thị L, Nguyễn Duy T, Nông Quang T2, Vũ Văn C diễn ra trong thời gian ngắn, không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, nên không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106; 135, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- 1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 03 (ba) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/12/2023).
-
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống điếu bằng tre dài 63,5cm, miệng ống điếu có đường kính 5,2cm được quấn băng dính đen, phần đáy ống điếu đã bị vỡ dập; 11 (mười một) mảnh thủy vỡ thủy tinh màu trong suốt, có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; 03 (ba) mảnh vỡ bằng sứ màu trắng có kích thước khác nhau, trên mảnh vỡ bám dính nhiều đất, cát và tạp chất màu đỏ; Tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 3 trên hiện trường.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương lập ngày 31/5/20224).
-
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Duy T.
- Bị cáo Nguyễn Duy T, người bị hại Vũ Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Sơn Hải - Ma Quốc Thể |
Phạm Thị Thùy Trâm |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban án Nguyễn Duy T - 134
