Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1- Ông Quàng Ngọc Tiên.
  • 2- Ông Lường Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mùa A D (Không có tên gọi khác), sinh năm 1979, tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không học; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa Sáy L, sinh năm 1956 và bà Giàng Thị H, sinh năm 1958; vợ Giàng Thị K, sinh năm 1980 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 04 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 15/11/2019 bị cáo chấp hành xong, hiện đã được được xóa án tích; tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 16/02/2024; tạm giam từ ngày 16/02/2024 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch cho bị cáo:

Anh Sùng A T, sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Tổ 04, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06 tháng 02 năm 2024, Mùa A D cầm theo số tiền 150.000₫ đi bộ từ nhà ở bản N, xã P, huyện Đ đến khu vực bản C, xã M, huyện Đ để tìm mua ma túy sử dụng, đến khoảng 20 giờ, cùng ngày bị cáo đến lán nương của Vừ A L, tại đây bị cáo đã hỏi và mua được của L 01 gói Heroine với giá 150.000đ. Mua được Heroine Mùa A D dùng tay bẻ một ít sử dụng tại chỗ số còn lại D gói lại cất vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà D cất giấu số Heroine ở dưới gối trên giường ngủ của D. Sáng ngày 07/02/2024, Mùa A D lấy số Heroine cất giấu bẻ một ít để sử dụng sau đó gói lại cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi làm nương. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi D đi làm nương về đến bản N, xã P thì bị tổ công tác Công an xã P phối hợp với tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,22 gam Heroine.

Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục nghi Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 22 giờ 15 phút ngày 07/02/2024 xác định vật chứng chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine có khối lượng là: 0,22 gam. Gửi toàn bộ vật chứng đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 383/KL-KTHS ngày 13/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Mùa A D có khối lượng 0,22 gam là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại 0,17 gam Heroine sau giám định.

Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-ĐBĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Mùa A D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mùa A D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A D từ 14 tháng đến 16 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 0,17 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo Mùa A D thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 07/02/2024, tại khu vực bản N, xã Pú, huyện Đ. Tổ công tác công an xã P phối hợp với tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang Mùa A D đang cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mùa A D đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c. Heroine, Cocaine, Heroine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.

[2]. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã P nói riêng, huyện Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Ngày 20/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 04 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 15/11/2019 bị cáo chấp hành xong, hiện đã được xóa án tích, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7]. Về vật chứng vụ án: Gồm 0,05 gam Heroine hoàn lại sau giám định; là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói ma tuý, không còn giá trị sử dụng và 01 vỏ phong bì niêm phong cũ cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người dân tộc Mông tên Vừ A L bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo cơ quan CSĐT Công an huyện đã tiến hành xác minh tại bản C, xã M không có ai tên Vừ A L do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, không có đủ thông tin để xác minh làm rõ, nên khôn đề cập xử lý trong vụ án. HĐXX không xem xét.

[9]. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Mông sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mùa A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mùa A D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 07/02/2024).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu, tiêu hủy 0,17 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
  • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu xanh.

Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 00 phút ngày 07/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A D.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 30/5/2024./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Điện Biên Đông;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông;
  • - Cơ quan CSĐT C.A huyện Điện Biên Đông;
  • - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên;
  • - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - CC.THADS huyện Điện Biên Đông;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mùa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger