|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày 29-11-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Sỹ Nghiêm và bà Lê Thị Dệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Thị H, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1976 tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T (đã chết); con bà Mạch Thị Q (đã chết); gia đình có 7 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; bị cáo có chồng là Trần Đăng X, sinh năm 1972, hiện sinh sống tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2023 đến ngày 31/7/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1981
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1976
Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Nhân T2, sinh năm 1992
Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Trần Đăng T3, sinh năm 1993
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Lê Đình T4, sinh năm 1976
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Bùi Mạnh T5, sinh năm 1989
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1954
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Phan Thị H1, sinh năm 1982
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Ngô Thị H2, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Lê Thị T7, sinh năm 1990
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Đỗ Thị T8, sinh năm 1976
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Đỗ Đức H4, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Trần Hiệp D, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Lê Trung T9, sinh năm 1989
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Trần Thị T10, sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Trần Đăng L1, sinh năm 1984
Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Đỗ Thế T11, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Lê Thị H5, sinh năm 1971
Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa. - Ông Trần Xuân T12, sinh năm 1955
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1980
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Lâm Ngọc Đ2, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Chị Lâm Thị Q2, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. - Anh Trần Văn H6, sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện N, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt chị Lê Thị T7, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị L2 và anh Trần Văn H6.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Thị H, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng tiền cá nhân thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính từ việc cho vay để lấy tiền tiêu dùng. Từ tháng 06 năm 2021 đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho 28 (hai tám) cá nhân trên địa bàn huyện N, tỉnh Thanh Hóa và huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tổng số tiền 1.647.000.000₫ (một tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu đồng), với lãi suất thỏa thuận trong quá trình vay từ 3.000 đồng đến 12.987 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng mức lãi suất từ 109,5% đến 474%/năm), lãi suất tính từ thời điểm vay, tiền lãi thanh toán hàng tháng, mỗi tháng tính 30 ngày và không thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền gốc. Lãi suất Hồ Thị H cho vay vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm) từ 5,475 lần đến 23,7 lần. Hồ Thị H đã cho vay và thu lợi bất chính được tổng số tiền 150.418.333 (một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười tám nghìn ba trăm ba ba đồng) với những người vay cụ thể như sau:
1. Ngày 09/4/2023, Hồ Thị H cho anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000đồng với lãi suất là 5.000đồng/01triệu đồng/01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Hồ Thị H thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Nguyễn Tiến C vay tiền tổng 70 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 7.000.000đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Nguyễn Tiến C 70 ngày là 777.778 đồng (Bảy trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 6.222.222 đồng (Sáu triệu hai trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Tiến C mới trả được cho Hồ Thị H 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 6.000.000đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 5.333.333đồng (Năm triệu ba trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Tiến C còn nợ, anh Nguyễn Tiến C vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
2. Hồ Thị H cho anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
Ngày 19/4/2023, Hồ Thị H cho anh Hồ Văn Đ vay số tiền 130.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Hồ Văn Đ vay tiền tổng 60 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 23.400.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Hồ Văn Đ 60 ngày là 4.333.333 đồng (bốn triệu ba trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 19.066.667 đồng (mười chín triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Quá trình cho vay, anh Hồ Văn Đ mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 11.700.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 9.533.333 đồng (chín triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Hồ Văn Đ còn nợ, anh Hồ Văn Đ vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 13/5/2023, Hồ Thị H cho anh Hồ Văn Đ vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Hồ Văn Đ vay tiền tổng 36 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 4.320.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Hồ Văn Đ 36 ngày là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 4.320.000 đồng (bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Quá trình cho vay, anh Hồ Văn Đ chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Hồ Văn Đ còn nợ, anh Hồ Văn Đ vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 13/5/2023, Hồ Thị H cho anh Hồ Văn Đ vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Hồ Văn Đ vay tiền tổng 14 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 2.940.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Hồ Văn Đ 14 ngày là 544.444 đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 2.395.556 đồng (hai triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng). Quá trình cho vay, anh Hồ Văn Đ chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Hồ Văn Đ còn nợ, anh Hồ Văn Đ vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 228-230)
3. Ngày 06/5/2022, Hồ Thị H cho anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1976, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Hoàng Văn Đ1 vay tiền tổng 407 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 12.210.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Hoàng Văn Đ1 407 ngày là 2.261.111 đồng (hai triệu hai trăm sáu mốt nghìn một trăm mười một đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 9.948.889 đồng (chín triệu chín trăm bốn tám nghìn tám trăm tám chín đồng). Quá trình cho vay, anh Hoàng Văn Đ1 mới trả được cho Hồ Thị H 250 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 7.500.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 6.111.111 đồng (sáu triệu một trăm mười một nghìn một trăm mười một đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Hoàng Văn Đ1 còn nợ, anh Hoàng Văn Đ1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 237-238)
4. Hồ Thị H cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể:
Ngày 06/3/2023, Hồ Thị H cho anh Nguyễn Văn T1 vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Nguyễn Văn T1 vay tiền tổng 204 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 21.840.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Nguyễn Văn T1 204 ngày là 4.044.444 đồng (bốn triệu không trăm bốn bốn nghìn bốn trăm bốn bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 17.795.556 đồng (mười bảy triệu bảy trăm chín lăm nghìn năm trăm năm sáu đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Văn T1 mới trả được cho Hồ Thị H 71 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 14.910.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 12.148.889 đồng (mười hai triệu một trăm bốn tám nghìn tám trăm tám chín đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Văn T1 còn nợ, anh Nguyễn Văn T1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 01/5/2023, Hồ Thị H cho anh Nguyễn Văn T1 vay số tiền 11.000.000 đồng với lãi suất là 12.987 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 23,36 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Nguyễn Văn T1 vay tiền tổng 48 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 6.857.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Nguyễn Văn T1 48 ngày là 293.333 đồng (hai trăm chín ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 6.563.667 đồng (sáu triệu năm trăm sáu ba nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Văn T1 mới trả được cho Hồ Thị H 21 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 2.871.667 đồng (hai triệu tám trăm bảy mốt nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Văn T1 còn nợ, anh Nguyễn Văn T1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 277-279)
5. Ngày 31/7/2022, Hồ Thị H cho anh Nguyễn Nhân T2, sinh năm 1992, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Nguyễn Nhân T2 vay tiền tổng 322 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 67.620.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Nguyễn Nhân T2 322 ngày là 12.522.222 đồng (mười hai triệu năm trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 55.097.778 đồng (năm lăm triệu không trăm chín bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Nhân T2 mới trả được cho Hồ Thị H 19 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 3.261.111 đồng (ba triệu hai trăm sáu mốt nghìn một trăm mười một đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Nhân T2 còn nợ, anh Nguyễn Nhân T2 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 198-199)
6. Ngày 17/01/2022, Hồ Thị H cho anh Trần Đăng T3, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Ngày 20/01/2023, anh Trần Đăng T3 trả cho Hồ Thị H tiền gốc và 125 ngày tiền lãi là 15.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Trần Đăng T3 125 ngày là 2.777.778 đồng (hai triệu bảy trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 12.222.222 đồng (mười hai triệu hai trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Sau đó, Hồ Thị H không thu thêm số tiền lãi anh T3 còn nợ tính đến ngày 20/01/2023 và kết thúc khoản vay. (BL 244-246)
7. Ngày 04/3/2022, Hồ Thị H cho anh Lê Đình T4, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 7,19 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Lê Đình T4 vay tiền tổng 471 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 18.840.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Lê Đình T4 471 ngày là 2.616.667 đồng (hai triệu sáu trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 16.223.333 đồng (mười sáu triệu hai trăm hai ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Quá trình cho vay, anh Lê Đình T4 mới trả được cho Hồ Thị H 120 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.800.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 4.133.333 đồng (bốn triệu một trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Lê Đình T4 còn nợ, anh Lê Đình T4 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hô Thị H theo thỏa thuận. (BL 220-222)
8. Ngày 09/9/2022, Hồ Thị H cho anh Bùi Mạnh T5, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 165.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Bùi Mạnh T5 vay tiền tổng 282 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 139.590.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Bùi Mạnh T5 282 ngày là 25.850.000 đồng (hai lăm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 113.740.000 đồng (một trăm mười ba triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Quá trình cho vay, anh Bùi Mạnh T5 mới trả được cho Hồ Thị H 23 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 11.500.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 9.391.667 đồng (chín triệu ba trăm chín mốt nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Bùi Mạnh T5 còn nợ, anh Bùi Mạnh T5 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 213-214)
9. Ngày 05/10/2022, Hồ Thị H cho ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1954, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho ông Nguyễn Trung T6 vay tiền tổng 256 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 15.360.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của ông Nguyễn Trung T6 256 ngày là 2.844.444 đồng (hai triệu tám trăm bốn bốn nghìn bốn trăm bốn bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 12.515.556 đồng (mười hai triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm năm sáu đồng). Quá trình cho vay, ông Nguyễn Trung T6 mới trả được cho Hồ Thị H 120 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 7.200.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 5.866.667 đồng (năm triệu tám trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc ông Nguyễn Trung T6 còn nợ, ông Nguyễn Trung T6 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
10. Hồ Thị H cho chị Phan Thị H1, sinh năm 1982, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể:
Ngày 30/9/2022, Hồ Thị H cho chị Phan Thị H1 vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Phan Thị H1 vay tiền tổng 261 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 15.660.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Phan Thị H1 261 ngày là 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 12.760.000 đồng (mười hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Quá trình cho vay, chị Phan Thị H1 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Phan Thị H1 còn nợ, chị Phan Thị H1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 24/10/2022, Hồ Thị Hcho chị Phan Thị H1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Phan Thị H1 vay tiền tổng 241 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 36.150.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Phan Thị H1 241 ngày là 6.694.444 đồng (sáu triệu sáu trăm chín tư nghìn bốn trăm bốn bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 29.455.556 đồng (hai chín triệu bốn trăm năm lăm nghìn năm trăm năm sáu đồng). Quá trình cho vay, chị Phan Thị H1 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.500.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 3.666.667 đồng (ba triệu sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Phan Thị H1 còn nợ, chị Phan Thị H1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
11. Ngày 09/4/2022, Hồ Thị H cho chị Ngô Thị H2, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 56.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Ngô Thị H2 vay tiền tổng 435 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 73.080.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Ngô Thị H2 435 ngày là 13.533.333 đồng (mười ba triệu năm trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 59.546.667 đồng (năm chín triệu năm trăm bốn sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Ngô Thị H2 mới trả được cho Hồ Thị H 95 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 16.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 13.044.444 đồng (mười ba triệu không trăm bốn bốn nghìn bốn trăm bốn bốn đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Ngô Thị H2 còn nợ, chị Ngô Thị H2 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
12. Ngày 20/4/2022, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, trú tại: thôn X, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị L vay tiền tổng 424 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 25.440.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị L 424 ngày là 4.711.111 đồng (bốn triệu bảy trăm mười một nghìn một trăm mười một đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 20.728.889 đồng (hai mươi triệu bảy trăm hai tám nghìn tám trăm tám chín đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị L mới trả được cho Hồ Thị H 120 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 7.200.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 5.866.667 đồng (năm triệu tám trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị L còn nợ, chị Nguyễn Thị L vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận. (BL 169-170)
13. Hồ Thị H cho chị Lê Thị T7, sinh năm 1990, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
Ngày 02/3/2022, Hồ Thị H cho chị Lê Thị T7 vay số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên Hồ Thị H và chị Lê Thị T7 thỏa thuận không tính lãi suất nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ xử lý đối với khoản vay này.
Ngày 10/4/2023, Hồ Thị H cho chị Lê Thị T7 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 7,19 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Lê Thị T7 vay tiền tổng 69 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 22.080.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Lê Thị T7 69 ngày là 3.066.667 đồng (ba triệu không trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 19.013.333 đồng (mười chín triệu không trăm mười ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Quá trình cho vay, chị Lê Thị T7 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 9.600.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 8.266.667 đồng (tám triệu hai trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Lê Thị T7 còn nợ, chị Lê Thị T7 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 10/5/2023, Hồ Thị H cho chị Lê Thị T7 vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 7,19 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Lê Thị T7 vay tiền tổng 39 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 3.120.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Lê Thị T7 39 ngày 433.333 đồng (bốn trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 2.686.667 đồng (hai triệu sáu trăm tám sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Lê Thị T7 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Lê Thị T7 còn nợ, chị Lê Thị T7 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
14. Hồ Thị H cho chị Đỗ Thị T8, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể:
Ngày 25/11/2021, Hồ Thị H cho chị Đỗ Thị T8 vay số tiền 210.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Đến ngày 30/11/2021, Chị Đỗ Thị T8 đã trả cho Hồ Thị H số tiền 90.000.000 đồng tiền gốc của khoản vay và 06 ngày lãi của số tiền vay 90.000.000 đồng, với số tiền lãi là 1.620.000 đồng, Hồ Thị H đã thu lời bất chính số tiền 1.320.000 đồng. Đối với số tiền nợ còn lại của khoản vay là 120.000.000 đồng, đến tháng 01/2022 chị Đỗ Thị T8 nợ Hồ Thị H 02 tháng (60 ngày) tiền lãi với số tiền lãi là 21.600.000 đồng, theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Đỗ Thị T8 60 ngày là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 17.600.000 đồng (mười bảy triệu sáu trăm đồng). Sau đó, do chị Đỗ Thị T8 không còn khả năng trả tiền lãi cho Hồ Thị H nên Hồ Thị H yêu cầu chị Đỗ Thị T8 phải trả đủ số tiền gốc 120.000.000 đồng, số tiền lãi của 60 ngày là 21.600.000 đồng và không tính thêm tiền lãi của chị Đỗ Thị T8.
Ngày 14/01/2022, Hồ Thị H cho chị Đỗ Thị T8 vay số tiền 195.000.000 đồng, tuy nhiên Hồ Thị H và chị Đỗ Thị T8 thỏa thuận không tính lãi suất nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không có căn cứ xử lý đối với khoản vay này.
15. Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
Ngày 08/4/2023, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị H3 vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị H3 vay tiền tổng 70 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 14.700.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị H3 70 ngày là 2.722.222 đồng (hai triệu bảy trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 11.977.778 đồng (mười một triệu chín trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị H3 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 6.300.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 5.133.333 đồng (năm triệu một trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị H3 còn nợ, chị Nguyễn Thị H3 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 15/4/2023, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị H3 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị H3 vay tiền tổng 64 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 11.520.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị H3 70 ngày là 2.133.333 đồng (hai triệu một trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 9.386.667 đồng (chín triệu ba trăm tám sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị H3 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 5.400.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị H3 còn nợ, chị Nguyễn Thị H3 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 11/5/2023, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị H3 vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị H3 vay tiền tổng 38 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 4.560.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị H3 38 ngày là 844.444 đồng (tám trăm bốn bốn nghìn bốn trăm bốn bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.715.556 đồng (ba triệu bảy trăm mười lăm nghìn năm trăm năm sáu đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị H3 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị H3 còn nợ, chị Nguyễn Thị H3 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
16. Ngày 27/12/2021, Hồ Thị H cho anh Đỗ Đức H4, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Sau khi vay được 02 tháng, anh Đỗ Đức H4 đã trả cho Hồ Thị H 20.000.000 đồng tiền gốc. Tính đến thời điểm trả tiền gốc, Hồ Thị H đã cho anh Đỗ Đức H4 vay tiền tổng 60 ngày, nhằm thu số tiền lãi 3.600.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Đỗ Đức H4 60 ngày là 666.667 đồng (sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 2.933.333 đồng (hai triệu chín trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Quá trình cho vay, anh Đỗ Đức H4 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 1.800.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 1.466.667 đồng (một triệu bốn trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi anh Đỗ Đức H4 còn nợ, anh Đỗ Đức H4 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
17. Ngày 16/02/2023, Hồ Thị H cho anh Trần Hiệp D, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Trần Hiệp D vay tiền tổng 122 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 6.100.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Trần Hiệp D 122 ngày là 677.778 đồng (sáu trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 5.422.222 đồng (năm triệu bốn trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Quá trình cho vay, anh Trần Hiệp D mới trả được cho Hồ Thị H 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 2.666.667 đồng (hai triệu sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Trần Hiệp D còn nợ, anh Trần Hiệp D vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
18. Ngày 16/02/2023, Hồ Thị H cho chị Trần Thị T10, sinh năm 1970, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
Ngày 13/12/2022, Hồ Thị Hcho chị Trần Thị T10vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Trần Thị T10 vay tiền tổng 187 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 11.220.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Trần Thị T10 187 ngày là 2.077.778 đồng (hai triệu không trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 9.142.222 đồng (chín triệu một trăm bốn hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Quá trình cho vay, chị Trần Thị T10 mới trả được cho Hồ Thị H 90 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 5.400.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Trần Thị T10 còn nợ, chị Trần Thị T10 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 13/01/2023, Hồ Thị Hcho chị Trần Thị T10vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Trần Thị T10 vay tiền tổng 156 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 9.360.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Trần Thị T10 156 ngày là 1.733.333 đồng (một triệu bảy trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 7.626.667 đồng (bảy triệu sáu trăm hai sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Trần Thị T10 mới trả được cho Hồ Thị H 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.600.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 2.933.333 đồng (hai triệu chín trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Trần Thị T10 còn nợ, chị Trần Thị T10 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngày 29/5/2023, Hồ Thị Hcho chị Trần Thị T10 vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Trần Thị T10 vay tiền tổng 20 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 1.500.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Trần Thị T10 20 ngày là 277.778 đồng (hai trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 1.222.222 đồng (một triệu hai trăm hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Quá trình cho vay, chị Trần Thị T10 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Trần Thị T10 còn nợ, chị Trần Thị T10 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
19. Ngày 06/5/2023, Hồ Thị H cho anh Lê Trung T9, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã thu được của anh Lê Trung T9 60 ngày tiền lãi với số tiền là 9.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu anh Lê Trung T9 60 ngày là 1.666.667 đồng (một triệu sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 7.333.333 đồng (bảy triệu ba trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng).
20. Ngày 01/5/2023, Hồ Thị H cho anh Trần Đăng L1, sinh năm 1984, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Trần Đăng L1 vay tiền tổng 48 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 3.600.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Trần Đăng L1 48 ngày là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Quá trình cho vay, anh Trần Đăng L1 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 2.250.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Trần Đăng L1 còn nợ, anh Trần Đăng L1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
21. Ngày 17/4/2023, Hồ Thị H cho anh Đỗ Thế T11, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Đỗ Thế T11 vay tiền tổng 62 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 7.440.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Đỗ Thế T11 62 ngày là 1.377.778 đồng (một triệu ba trăm bảy bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 6.062.222 đồng (sáu triệu không trăm sáu hai nghìn hai trăm hai hai đồng). Quá trình cho vay, anh Đỗ Thế T11 mới trả được cho Hồ Thị H 33 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 3.266.667 đồng (ba triệu hai trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Đỗ Thế T11 còn nợ, anh Đỗ Thế T11 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hô Thị H theo thỏa thuận.
22. Ngày 18/5/2023, Hồ Thị H cho chị Lê Thị H5, sinh năm 1971, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Lê Thị H5 vay tiền tổng 31 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 4.650.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Lê Thị H5 31 ngày là 861.111 đồng (tám trăm sáu mốt nghìn một trăm mười một đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.788.889 đồng (ba triệu bảy trăm tám tám nghìn tám trăm tám bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Lê Thị H5 mới trả được cho Hồ Thị H 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.500.000 đồng, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 3.666.667 đồng (ba triệu sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Lê Thị H5 còn nợ, chị Lê Thị H5 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
23. Ngày 19/8/2021, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 35.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Đến tháng 10/2022, Hồ Thị H dừng việc tính thêm tiền lãi đối với khoản vay này, chỉ yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi 288 ngày còn khất nợ. Tính đến tháng 10/2022, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị L2 vay tiền tổng 397 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 41.685.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị L2 397 ngày là 7.719.444 đồng (bảy triệu bảy trăm mười chín nghìn bốn trăm bốn bốn đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 33.965.556 đồng (ba ba triệu chín trăm sáu lăm nghìn năm trăm năm sáu đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị L2 mới trả được cho Hồ Thị H 109 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 11.500.000 đồng, do chị Đỗ Thị L3, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là cháu của chị L2) trả cho Hồ Thị H, trong đó Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 9.380.556 đồng (chín triệu ba trăm tám mươi nghìn năm trăm năm sáu đồng). Từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022, chị Nguyễn Thị L2 đã trả được cho Hồ Thị H 30.000.000 đồng tiền gốc của khoản vay này, do chị Đỗ Thị L3 (là cháu của chị L2) trả cho Hồ Thị H. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị L2 còn nợ, chị Nguyễn Thị L2 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
24. Tháng 10/2021, Hồ Thị H cho ông Trần Xuân T12, sinh năm 1955, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Hồ Thị H thu tiền lãi trước của ông Trần Xuân T12 01 tháng (30 ngày) ngay tại thời điểm vay số tiền lãi là 900.000 đồng, Hồ Thị H đã thu lợi bất chính số tiền 733.333 đồng (bảy trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Đến ngày 23/8/2022, ông Trần Xuân T12 chưa trả được cho Hồ Thị H thêm này lãi nào và nợ lại Hồ Thị H 10 tháng (300 ngày) tiền lãi với số tiền lãi là 9.000.000 đồng, trong đó Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 7.333.333 đồng (bảy triệu ba trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng) và vay thêm Hồ Thị H số tiền 1.000.000 đồng, cộng dồn với tiền gốc và tiền lãi của khoản vay, tổng ông Trần Xuân T12 nợ Hồ Thị H là 20.000.000 đồng. Hồ Thị H và ông Trần Xuân T12 thỏa thuận với nhau tiếp tục tính tiền lãi cho tổng số tiền nợ 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày. Tính đến ngày 17/6/2023, thời hạn vay cho số tiền 20.000.000 đồng tổng 263 ngày, Hồ Thị H nhằm thu số tiền lãi là 15.781.000 đồng, trong đó Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 12.858.778 đồng (mười hai triệu tám trăm năm tám nghìn bảy trăm bảy tám đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc ông Trần Xuân T12 còn nợ, ông Trần Xuân T12 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
25. Ngày 22/4/2023, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1980, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 11.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho chị Nguyễn Thị Q1 vay tiền tổng 57 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 1.881.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Nguyễn Thị Q1 57 ngày là 348.333 đồng (ba trăm bốn tám nghìn ba trăm ba ba đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 1.532.667 đồng (một triệu năm trăm ba hai nghìn sáu trăm sáu bảy đồng). Quá trình cho vay, chị Nguyễn Thị Q1 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc chị Nguyễn Thị Q1 còn nợ, chị Nguyễn Thị Q1 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
26. Ngày 15/5/2023, Hồ Thị H cho anh Lâm Ngọc Đ2, sinh năm 1998, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 8.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Lâm Ngọc Đ2 vay tiền tổng 34 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 816.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Lâm Ngọc Đ2 34 ngày là 151.111 đồng (một trăm năm mốt nghìn một trăm mười một đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 664.889 đồng (sáu trăm sáu tư nghìn tám trăm tám chín đồng). Quá trình cho vay, anh Lâm Ngọc Đ2 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Lâm Ngọc Đ2 còn nợ, anh Lâm Ngọc Đ2 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
27. Tháng 6/2021, Hồ Thị H cho chị Lâm Thị Q2, sinh năm 1975, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Quá trình cho vay, chị Lâm Thị Q2 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đến ngày 13/7/2022, Hồ Thị H đã cho chị Lâm Thị Q2 vay tiền tổng 400 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 60.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của chị Lâm Thị Q2 400 ngày là 6.666.667 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu sáu nghìn sáu trăm sáu bảy đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 53.333.333 đồng (năm ba triệu ba trăm ba ba nghìn ba trăm ba ba đồng). Tuy nhiên, do chị Lâm Thị Q2 không còn khả năng trả thêm tiền lãi nên Hồ Thị H và chị Lâm Thị Q2 thỏa thuận thống nhất không tính thêm tiền lãi, Hồ Thị H yêu cầu chị Lâm Thị Q2 phải trả đủ số tiền gốc và lãi chị Lâm Thị Q2 còn nợ.
28. Ngày 16/6/2023, Hồ Thị H cho anh Trần Văn H6, sinh năm 1979, trú tại: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 5,4 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho anh Trần Văn H6 vay tiền tổng 02 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 120.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Hồ Thị H được phép thu của anh Trần Văn H6 02 ngày là 22.222 đồng (hai hai nghìn hai trăm hai hai đồng) tiền lãi, Hồ Thị H nhằm thu lợi bất chính số tiền 97.778 đồng (chín bảy nghìn bảy trăm bảy tám đồng). Quá trình cho vay, anh Trần Văn H6 chưa trả được cho Hồ Thị H ngày lãi nào. Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Trần Văn H6 còn nợ, anh Trần Văn H6 vẫn phải có trách nhiệm trả cho Hồ Thị H theo thỏa thuận.
Ngoài 28 (hai tám) cá nhân Hồ Thị H cho vay tiền với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính lấy tiền tiêu xài cá nhân, Hồ Thị H còn cho 09 (chín) cá nhân khác vay tiền, cụ thể:
1. Năm 2016, Hồ Thị H cho anh Trần Văn H7, sinh năm 1971, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 29.000.000 đồng không tính lãi. Đến tháng 11/2022, Hồ Thị H và anh Trần Văn H7 thỏa thuận thống nhất với nhau đối với số tiền anh Trần Văn H7 nợ thì hàng tháng anh Trần Văn H7 phải trả tiền lãi cho Hồ Thị H với mức lãi suất là 4%/ 01 tháng, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 2,4 lần nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoa không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hồ Thị H về khoản vay này.
2. Ngày 07/02/2022, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 150.000.000 đồng, tuy nhiên Hồ Thị H và chị Nguyễn Thị M thỏa thuận không tính lãi suất nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hồ Thị H về khoản vay này.
3. Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị L4, sinh năm 1971, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 70.000.000 đồng ngày 06/3/2023 và 160.000.000 đồng ngày 05/08/2022, tuy nhiên Hồ Thị H và chị Nguyễn Thị L4 thỏa thuận không tính lãi suất nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hồ Thị H về khoản vay này.
4. Ngày 22/11/2021, Hồ Thị H cho anh Đỗ Đức C1, sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 8.000.000 đồng.
5. Ngày 08/02/2022, Hồ Thị H cho chị Mạch Thị T13, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 5.000.000 đồng.
6. Ngày 05/3/2021, Hồ Thị H cho anh Trần Đăng T14, sinh năm 1999, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 đồng.
7. Ngày 15/4/2023, Hồ Thị H cho anh Lê Văn T15, sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 35.000.000 đồng.
8. Ngày 15/4/2023, Hồ Thị H cho chị Đỗ Thị L5, sinh năm 1985, trú tại: thôn T. Vũ Yên, TT. N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 22.000.000 đồng.
9. Ngày 16/3/2023, Hồ Thị H cho chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1968, trú tại: thôn T, xã C, TX. N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 30.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Đỗ Đức C1 đã chết, chị Mạch Thị T13; anh Trần Đăng T14; anh Lê Văn T15; chị Đỗ Thị L5; Nguyễn Thị B không có mặt tại địa phương nơi cư trú, không xác định được nơi ở hiện tại nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không làm việc được với những người này vì vậy không xác định được lãi suất cho vay và số tiền thu lợi bất chính mà Hồ Thị H đã thu được từ 06 (sáu) cá nhân trên nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ để xử lý đối với Hồ Thị H về những khoản vay này. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa tách những trường hợp này để tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Tại bản kết luận giám định số 2791/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận không tìm thấy dữ liệu bị xóa trong chiếc điện thoại của Hồ Thị H.
- Tại bản kết luận giám định số 2619/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận số tiền 58.000.000 đồng là tiền thật.
Cơ quan điều tra cũng đã yêu cầu Ngân hàng T16, Ngân hàng L6 và Ngân hàng M3 cung cấp các bản sao kê lịch sử giao dịch trên tài khoản của Trần Đăng M1 và Trần Thị P (con Hồ Thị H). Kết quả sao kê các tài khoản do ngân hàng cung cấp phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động của Hồ Thị H, kết quả kiểm tra phát hiện trong ứng dụng Z, Facebook, M2 có những hội thoại tin nhắn với các cá nhân đã được Hồ Thị H cho vay tiền. Kết quả kiểm tra điện thoại là phù hợp với lời khai của Hồ Thị H, lời khai của những người có liên quan.
Như vậy, tổng số tiền Hồ Thị H giao dịch để cho vay là 1.647.000.000₫ (Một tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Trong đó, số tiền nợ gốc đã thu là 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng), số tiền nợ gốc chưa thu được là 1.467.000.000đ (Một tỷ bốn trăm sáu mươi bảy triệu đồng). Tổng số tiền lãi đã thu của 28 người vay là 182.180.000đ (Một trăm tám mươi hai triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó, số tiền thu lợi bất chính là 150.418.333₫ (Một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười tám nghìn ba trăm ba ba đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:
- 47 (bốn bảy) giấy vay tiền do các cá nhân vay viết khi vay tiền;
- 01 (một) khẩu súng săn và 01 (một) con dao thu giữ trong quá trình khám xét và 16 giấy vay tiền thu giữ trong quá trình khám xét;
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số se ri: PB6D4LNZZ565594T, gắn sim V, trên sim có số: 8984048000013189644 là chiếc điện thoại mà Hồ Thị H đã sử dụng để liên lạc hỏi nợ.
- Số tiền 58.000.000 đ (năm mươi tám triệu đồng) thu giữ tại chỗ ở của Hồ Thị H.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) khẩu súng săn, 01 (một) con dao và 16 giấy vay tiền thu giữ trong quá trình khám xét. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã chuyển khởi tố, điều tra ở vụ án “Vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” khác theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 47 ngày 20/6/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số se ri: PB6D4LNZZ565594T, gắn sim V, trên sim có số: 8984048000013189644 là chiếc điện thoại mà Hồ Thị H đã sử dụng để liên lạc hỏi nợ, hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.
- Đối với 47 (bốn bảy) giấy vay tiền do các cá nhân vay viết khi vay tiền được Cơ quan điều tra đánh số bút lục lưu cùng hồ sơ vụ án.
- Số tiền 58.000.000 đ (năm mươi tám triệu đồng) thu giữ tại chỗ ở của Hồ Thị H, hiện đang được Quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSNC ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Hồ Thị H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:
Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Hồ Thị H từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Xử phạt bổ sung Hồ Thị H từ 30.000.000₫ đến 40.000.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.
- Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền bị cáo cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vay chưa trả là 1.466.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền do phạm tội mà có là số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật là 20% cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật, cần phải buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay là đúng quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 180.000.000đ tiền gốc bị cáo đã thu của người vay nhưng sau đó bị cáo đã sử dụng để cho những người khác vay, vì vậy không truy thu số tiền này của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
* Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số sê ri: PB6D4LNZZ565594T, gắn sim V, trên sim có số: 8984048000013189644 là chiếc điện thoại mà Hồ Thị H đã sử dụng để liên lạc hỏi nợ là phương tiện phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 58.000.000 đ (năm mươi tám triệu đồng) thu giữ tại chỗ ở của Hồ Thị H hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa được trừ vào số tiền phải truy thu của bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhận tội, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, điều đó đủ cơ sở chứng minh:
Từ tháng 06 năm 2021 đến ngày 17/6/2023, Hồ Thị H đã cho 28 (hai mươi tám) cá nhân trên địa bàn huyện N, tỉnh Thanh Hóa và huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tổng số tiền 1.647.000.000đ (một tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu đồng), với lãi suất thỏa thuận trong quá trình vay từ 3.000 đồng đến 12.987 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng mức lãi suất từ 109,5% đến 474%/năm), lãi suất tính từ thời điểm vay, tiền lãi thanh toán hàng tháng, mỗi tháng tính 30 ngày và không thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền gốc. Lãi suất Hồ Thị H cho vay vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm) từ 5,475 lần đến 23,7 lần. Hồ Thị H đã thu lợi bất chính được tổng số tiền 150.418.333 (một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười tám nghìn ba trăm ba ba đồng). Do đó hành vi của Hồ Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Ngoài hành vi cho 28 người vay và bị truy tố, Hồ Thị H còn cho 09(chín) người khác vay số tiền 529.000.000đ. Tuy nhiên những người này vay tiền của bị cáo với mức lãi suất chưa vượt quá 5 lần mức lãi suất quy định trong Bộ luật Dân sự và một số trường hợp người vay không có mặt tại địa phương. Vì vậy việc không truy tố bị cáo đối với các khoản vay của 09 người trên cũng như việc tách ra để giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo có nơi cư trú ổn định vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích hám lời. Vì vậy cần căn cứ vào khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự đề xử phạt bổ sung đối với bị cáo để tăng tính giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
[6.1] Biện pháp tư pháp:
1. Xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội:
Đối với số tiền bị cáo cho vay gồm: cho anh Nguyễn Tiến C vay số tiền 20.000.000đồng; cho anh Hồ Văn Đ vay 03 lần tổng số tiền là 240.000.000₫; cho anh Hoàng Văn Đ1 vay số tiền 10.000.000 đồng; cho anh Nguyễn Văn T1 vay 02 lần tổng số tiền là 81.000.000đ; cho anh Nguyễn Nhân T2 vay số tiền 70.000.000 đồng; cho anh Trần Đăng T3 vay số tiền 40.000.000 đồng; cho anh Lê Đình T4 vay số tiền 10.000.000 đồng; cho anh Bùi Mạnh T5 vay số tiền 165.000.000 đồng; cho ông Nguyễn Trung T6 vay số tiền 20.000.000 đồng; cho chị Phan Thị H1 vay 02 lần tổng số tiền là: 70.000.000đ; cho chị Ngô Thị H2 vay số tiền 56.000.000 đồng; cho chị Nguyễn Thị L vay số tiền 20.000.000 đồng; cho chị Lê Thị T7 vay 03 lần với tổng số tiền 110.000.000₫ nhưng trong đó có 10.000.000₫ là vay không lãi, do đó số tiền phạm tội là 100.000.000đ; cho chị Đỗ Thị T8 vay 02 lần tổng số tiền là 405.000.000₫ nhưng trong đó có 195.000.000₫ vay không lãi, do đó số tiền phạm tội là 210.000.000đ; cho chị Nguyễn Thị H3 vay 03 lần Tổng số tiền là: 170.000.000đ; cho anh Đỗ Đức H4 vay số tiền 20.000.000 đồng; cho anh Trần Hiệp D vay số tiền 10.000.000 đồng; cho chị Trần Thị T10 vay 03 lần tổng số tiền là 65.000.000đ; cho anh Lê Trung T9 vay số tiền 50.000.000 đồng; cho anh Trần Đăng L1 vay số tiền 15.000.000 đồng; cho anh Đỗ Thế T11 vay số tiền 40.000.000 đồng; cho chị Lê Thị H5 vay số tiền 50.000.000 đồng; cho chị Nguyễn Thị L2 vay số tiền 35.000.000 đồng; cho ông Trần Xuân T12 vay số tiền 10.000.000 đồng và vay thêm 1.000.000 đồng, cộng dồn với tiền gốc và tiền lãi của khoản vay, là 20.000.000 đồng; cho chị Nguyễn Thị Q1 vay số tiền 11.000.000 đồng; cho anh Lâm Ngọc Đ2 vay số tiền 8.000.000 đồng; cho chị Lâm Thị Q2 vay số tiền 30.000.000 đồng; cho anh Trần Văn H6 vay số tiền 20.000.000 đồng.
Vì vậy xác định số tiền bị cá o sử dụng vào việc phạm tội là 1.647.000.000đ (Một tỉ sáu trăm bốn mươi bảy triệu đồng) vì vậy cần phải tịch thu số tiền trên để nộp vào ngân sách nhà nước.
Trong quá trình cho vay, bị cáo đã thu được số tiền gốc gồm: anh Trần Đăng T3 đã trả đủ số tiền gốc là 40.000.000 đồng; chị Đỗ Thị T8 đã trả 90.000.000 đồng tiền gốc; anh Đỗ Đức H4 đã trả toàn bộ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị L2 đã trả được 30.000.000 đồng tiền gốc. Vì vậy số tiền gốc bị cáo đã thu được từ người vay là 180.000.000đ. Tuy nhiên, số tiền gốc này sau khi thu được, bị cáo đã tiếp tục cho những người khác vay, vì vậy số tiền này đã nằm trong tổng số 1.647.000.000đ (Một tỉ sáu trăm bốn mươi bảy triệu đồng) bị cáo đã dùng cho vay lãi nặng, do đó không truy thu số tiền này của bị cáo là phù hợp.
Đối với số tiền hiện tại những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang vay của bị cáo nhưng chưa trả cần truy thu của những người này để nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Xử lý đối với số tiền lãi bị cáo đã nhận được từ những người vay:
2.1. Đối với số tiền lãi trong mức lãi xuất mà pháp luật cho phép (20%/năm): Trong khi thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, bị cáo đã nhận được từ người vay số tiền lãi là 182.180.000đ (Một trăm tám mươi hai triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó số tiền tối đa theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 31.761.667₫ (Ba mưới mốt triệu bảy trăm sáu mươi mốt đồng sáu trăm sáu mươi bảy đồng), tuy nhiên số tiền lãi này sau khi thu được từ những người vay, bị cáo tiếp tục dùng vào việc cho những người khác vay sau đó. Vì vậy không truy thu số tiền này của bị cáo vì đã nằm trong số tiền gốc hiện đang cho người có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án vay.
6.2. Đối với số tiền lãi bị cá o đã thu của những người vay là 150.418.333đ (Một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười tám nghìn ba trăm ba ba đồng) vượt quá quy định của pháp luật, đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt trái phép của người vay, tuy bị cáo cũng đã sử dụng vào việc cho những người khác vay, nhưng bị cáo vẫn phải trả lại cho những người bị cáo đã thu lãi. Vì vậy cần phải buộc bị cáo phải trả lại cho người đã trả lãi là đúng quy định của pháp luật.
[6.2] Xử lý vật chứng:
1. Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo xác định bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
2. Đối với số tiền 58.000.000 đ (năm mươi tám triệu đồng) thu giữ tại chỗ ở của Hồ Thị H tiếp tục tạm giữ tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa để đảm bảo thi hành án.
3. Đối với 47 (bốn bảy) giấy vay tiền do các cá nhân vay viết khi vay tiền được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
4. Đối với 01 (một) khẩu súng săn và 01 (một) con dao thu giữ trong quá trình khám xét và 16 giấy vay tiền thu giữ trong quá trình khám xét đã được xử lý trong vụ án hình sự khác.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố Hồ Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt Hồ Thị H 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24( Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023).
Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bổ sung Hồ Thị H 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp
2.1. Truy thu số tiền 1.466.000.000 đồng (Một tỉ bốn trăm sáu mươi sáu triệu đồng) là số tiền gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay chưa trả cho bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước gồm:
- - Truy thu của anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 20.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 240.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1976, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 10.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 81.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Nguyễn Nhân T2, sinh năm 1992, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 70.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Lê Đình T4, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 10.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Bùi Mạnh T5, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 165.000.000 đồng;
- - Truy thu của ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1954, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 20.000.000 đồng;
- - Truy thu của ông Trần Xuân T12, sinh năm 1955, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 10.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Phan Thị H1, sinh năm 1982, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 70.000.000 đồng;
- - Truy thu của cho chị Ngô Thị H2, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 56.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, trú tại: thôn X, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 20.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Lê Thị T7, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 100.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Đỗ Thị T8, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 120.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 170.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Trần Hiệp D, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 10.000.000 đông;
- - Truy thu của chị Trần Thị T10, sinh năm 1970, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 65.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Lê Trung T9, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 50.000.000 đồng;
- - Truy thu của cho anh Trần Đăng L1, sinh năm 1984, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 15.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Đỗ Thế T11, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 40.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 5.000.000 đồng;
- + chị Lê Thị H5, sinh năm 1971, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 50.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1980, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 11.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Trần Văn H6, sinh năm 1979, trú tại: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 20.000.000 đồng;
- - Truy thu của anh Lâm Ngọc Đ2, sinh năm 1998, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 8.000.000 đồng;
- - Truy thu của chị Lâm Thị Q2, sinh năm 1975, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 30.000.000 đồng
2.3. Buộc Hồ Thị H phải trả lại số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật mà bị cáo đã chiếm đoạt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 150.418.333đ (Một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười tám nghìn ba trăm ba ba đồng) cụ thể gồm:
- - Trả cho anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 5.333.333 đồng;
- - Trả cho anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 9.533.333 đồng;
- - Trả cho anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1976, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 6.111.111 đồng;
- - Trả cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 15.020.556 đồng;
- - Trả cho anh Nguyễn Nhân T2, sinh năm 1992, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 3.261.111 đồng;
- - Trả cho Anh Trần Đăng T3, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 12.222.222 đồng
- - Trả cho anh Lê Đình T4, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 4.133.333 đồng;
- - Trả cho anh Bùi Mạnh T5, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 9.391.667 đồng;
- - Trả cho ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1954, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 5.866.667 đồng;
- - Trả cho chị Phan Thị H1, sinh năm 1982, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 3.666.667 đồng;
- - Trả cho cho chị Ngô Thị H2, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 13.044.444 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, trú tại: thôn X, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 5.866.667 đồng;
- - Trả cho chị Lê Thị T7, sinh năm 1990, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 8.266.667 đồng;
- - Trả cho chị Đỗ Thị T8, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 1.320.000 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 9.533.333 đồng;
- - Trả cho anh Đỗ Đức H4, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 1.466.667 đồng
- - Trả cho anh Trần Hiệp D, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 2.666.667 đông;
- - Trả cho chị Trần Thị T10, sinh năm 1970, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 7.333.333 đồng;
- - Trả cho anh Lê Trung T9, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 7.333.333 đồng;
- - Trả cho cho anh Trần Đăng L1, sinh năm 1984, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 2.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Đỗ Thế T11, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 3.266.667 đồng;
- - Trả cho chị Lê Thị H5, sinh năm 1971, trú tại: thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 3.666.667 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960, trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 9.380.556 đồng;
- - Trả cho ông Trần Xuân T12, sinh năm 1955, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 733.333 đồng;
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số seri: PB6D4LNZZ565594T, gắn sim V, trên sim có số: 8984048000013189644 đã qua sử dụng của Hồ Thị H. (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2023 giữa Chi cục THA DS huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 58.000.000 đ (năm mươi tám triệu đồng) thu giữ tại chỗ ở của Hồ Thị H hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo giấy nộp tiền ngày 25/10/2023.
4. Về án phí: Buộc Hồ Thị H phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Án xử công khai có mặt bị cáo, chị Lê Thị T7, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị L2 và anh Trần Văn H6, vắng mặt anh Nguyễn Tiến C, anh Hồ Văn Đ, anh Hoàng Văn Đ1, anh Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Nhân T2, anh Trần Đăng T3, anh Lê Đình T4, anh Bùi Mạnh T5, ông Nguyễn Trung T6, chị Phan Thị H1, chị Ngô Thị H2, chị Nguyễn Thị L, chị Đỗ Thị T8, anh Đỗ Đức H4, anh Trần Hiệp D, anh Lê Trung T9, chị Trần Thị T10, anh Trần Đăng L1, anh Đỗ Thế T11, chị Lê Thị H5, ông Trần Xuân T12, chị Nguyễn Thị Q1, anh Lâm Ngọc Đ2, chị Lâm Thị Q2
Những người có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |
Bản án số 68/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 68/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị H phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
