Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Luân Văn Tuân;

Bà Triệu Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Mã Thị Kim Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 202 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Xuân Q; sinh ngày 06 tháng 6 năm 1978, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ký L (đã chết) và bà Vi Thị É; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Theo Bản án số 62/2008/HSST, ngày 04/12/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 26/4/2024, tạm giam ngày 02/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
  2. Hoàng Văn N; sinh ngày 22 tháng 10 năm 1994, tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N1 và bà Chu Thị P; chưa có vợ, con; tiền án: Không, có 01 tiền sự, theo quyết định số 06/QĐ-TA ngày 10/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng đến ngày 28/4/2023 mới chấp hành xong (chưa được xóa); bị bắt tạm giữ ngày 25/4/2024, tạm giam ngày 01/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
  3. Mông Văn B; sinh ngày 07 tháng 10 năm 1999, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn P, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mông Văn Y và bà Lý Thị N2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 25/4/2024, tạm giam ngày 01/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B: Bà Lương Thị Hương L1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Mông Văn H, sinh năm 1982; trú tại: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hứa Văn T, sinh năm 1975. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 25/4/2024, tổ công tác Công an xã H3 và Công an xã B đang làm nhiệm vụ tại đường liên thôn V - thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện 02 người đàn ông đang điều khiển xe mô tô, có biểu hiện phạm tội về ma tuý. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, 02 người đàn ông chấp hành, tự khai họ tên Mông Văn B, là người điều khiển xe mô tô, Hoàng Văn N là người ngồi phía sau. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần đằng trước bên trái của Hoàng Văn N có 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa các cục, chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý H1, Hoàng Văn N khai nhận chất bột màu trắng trong gói giấy là chất ma tuý Heroin của Hoàng Văn N đi cùng với Hoàng Văn B1 mua về mục đích sử dụng. Tổ công tác đã đưa người cùng tang vật về Trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồ vật, tài liệu tạm giữ gồm:

- Thu giữ, tạm giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng chứa cục, chất bột màu trắng được niêm phong trong một phong bì; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu “Thăng Long”.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn N, Mông Văn B đều khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 ngày 25/4/2024, Hoàng Văn N đang đi bộ tại thôn C, xã H, huyện V, thì gặp Mông Văn B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1-069.06 đi trên đường. Hoàng Văn N gọi Mông Văn B dừng xe, Hoàng Văn N bảo Mông Văn B chở đi tìm mua ma túy H1, khi mua được Hoàng Văn N sẽ cho Mông Văn B sử dụng cùng, Mông Văn B đồng ý. Sau đó, Hoàng Văn N chở Mông Văn B đi đến xã T, huyện V. Khi đi đến đoạn ngã ba P, Hoàng Văn N gặp Hoàng Xuân Q đang đi bộ, Hoàng Văn N dừng xe, bảo Mông Văn B đợi ở xe và Hoàng Văn N đi bộ đến chỗ Hoàng Xuân Q. Khi gặp Hoàng Xuân Q, Hoàng Văn N hỏi Hoàng Xuân Q có biết chỗ nào bán ma túy Heroin không? muốn mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng ma túy để sử dụng và sẽ trả công cho Hoàng Xuân Q 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Hoàng Xuân Q đồng ý, Hoàng Văn N đưa cho Hoàng Xuân Q 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, Hoàng Xuân Q nhận tiền bảo Hoàng Văn Ngôn đợi và Hoàng Xuân Q bắt xe khách hướng thị trấn Đ. Sau đó, Hoàng Văn N quay lại chỗ Mông Văn B đứng đợi, Hoàng Văn N nói cho Mông Văn B biết đã nhờ Hoàng Xuân Q đi mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng ma túy H1 và trả công cho Hoàng Xuân Q là 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Hoàng Văn N và Mông Văn B đứng đợi ở ngã ba P. Khoảng hơn một tiếng, Hoàng Văn N thấy Hoàng Xuân Q quay lại, xuống xe khách ở ngã ba P, Hoàng Văn N và Hoàng Xuân Q đi bộ đến chỗ nhau, thì Hoàng Xuân Q đưa cho Hoàng Văn N 01 (một) gói giấy màu trắng chứa các cục, chất ma túy Heroin. Sau đó, Hoàng Xuân Q đi đâu, làm gì Hoàng Văn N không rõ. Hoàng Văn N nhận lấy gói ma túy để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long, cất vào trong túi quần đằng trước, bên trái đang mặc trên người, đi bộ đến chỗ Mông Văn B và nói với Mông Văn B đã nhận được ma tuý từ Hoàng Xuân Q và bảo Mông Văn B chở đi về xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, tìm nơi vắng để sử dụng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng đã thu thập được, ngày 26/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Xuân Q, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng, niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi chữ “Tiền Hoàng Xuân Q).

Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn ra lệnh khám xét chỗ ở của Hoàng Xuân Q, tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Qua khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 534/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Heroine, có tổng khối lượng 0,154 gam (đã trừ bì);

Tại bản kết luận giám định số 627/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Xuân Q khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 ngày 25/4/2024, Hoàng Xuân Q đang đi bộ ở khu vực ngã ba P thuộc thôn N, xã T khoảng 10 mét, thì nhìn thấy có 02 người nam thanh niên đi xe mô tô đến, Hoàng Xuân Q nhận ra người điều khiển xe mô tô là Hoàng Văn N (Hoàng Xuân Q biết Hoàng Văn N do cả hai cùng là người nghiện và đã quen biết nhau từ trước). Hoàng Xuân Q thấy Hoàng Văn N đi bộ về phía mình và hỏi có biết chỗ nào bán ma túy Heroin không? Hoàng Văn N muốn mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng để sử dụng và sẽ trả công cho Hoàng Xuân Q 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Hoàng Xuân Q đồng ý và cầm 500.000 (năm trăm nghìn) đồng của Hoàng Văn N rồi bảo Hoàng Văn Ngôn đứng chờ. Sau đó Hoàng Xuân Q bắt xe khách xuống thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để mua ma túy cho Hoàng Văn N. Khi xuống đến khu vực ngã ba đổi tiền thuộc thị trấn Đ, Hoàng Xuân Q xuống xe và hỏi một người đàn ông (Hoàng Xuân Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không biết biển soát của chiếc xe), khoảng 40 tuổi, làm nghề lái xe ôm đang dừng xe ở đó, mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và bảo Hoàng Xuân Q1 đợi, rồi người đàn ông đi xe mô tô vào trong chợ Đ, khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho Hoàng Xuân Q1 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa các cục, chất bột màu trắng là ma túy Heroin. Hoàng Xuân Q1 nhận lấy số ma túy trên cất vào túi quần, rồi bắt xe khách đi về. Khi về đến ngã ba P, Hoàng Xuân Q1 xuống xe, Hoàng Xuân Q1 và Hoàng Văn N đi bộ về phía nhau, Hoàng Xuân Q1 đưa cho Hoàng Văn N gói giấy chứa cục, chất ma túy Heroin vừa mua được, Hoàng Văn N nhận lấy ma túy rồi đi bộ về phía xe máy, có một nam thanh niên đang đứng chờ, rồi nam thanh niên này chở Hoàng Văn N đi đâu Hoàng Xuân Q1 không rõ. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, có lực lượng Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến thì hành lệnh giữ người khẩn cấp và lệnh khám xét khẩn cấp.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân Q1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hoàng Văn N, Hoàng Văn B1 về tội Tàng trữ trái phép chất mua túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất mua túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân Q1, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q1 mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 17 tháng đến 20 tháng tù; bị cáo Mông Văn B mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì các bị cáo không có tài sản gì, là người nghiện, không có thu nhập, khó thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Buộc bị cáo Hoàng Xuân Q1 phải chịu án phí hình sự, miễn án phí hình sự cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B, theo quy định của pháp luật

Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh đã truy tố. Về nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, về tình tiết tăng nặng không có. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 15 tháng đến 17 tháng; bị cáo Mông Văn B mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không ai có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đại diện Viện kiểm sát có tranh luận với người bào chữa, về nhân thân bị cáo Hoàng Văn N đã có tiền sự, các bị cáo nhận thức được, nhưng vẫn cố ý thực hiện, người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Mông Văn H. Tuy nhiên xét thấy phiên tòa xét xử đối với các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói trên vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho anh Mông Văn H. Do vậy, việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói trên, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 30 ngày 25/4/2024 bị cáo Hoàng Văn N đang đi bộ tại thôn C, xã H, huyện V gặp Mông Văn B đang điều khiển xe mô tô đi trên đường, Hoàng Văn N gọi Mông Văn B dừng xe, Hoàng Văn N bảo Mông Văn B chở đi tìm mua ma túy H1, khi mua được Hoàng Văn N sẽ cho Mông Văn B sử dụng cùng, Mông Văn B đồng ý. Sau đó Hoàng Văn N chở Mông Văn B đến xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến đoạn ngã ba P, Hoàng Văn N gặp Hoàng Xuân Q1 đang đi bộ khoảng 10 mét, Hoàng Văn N dừng xe, bảo Mông Văn B đợi ở xe và Hoàng Văn N đi bộ đến chỗ Hoàng Xuân Q1 hỏi mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng ma túy để sử dụng và sẽ trả công cho Hoàng Xuân Q1 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Hoàng Xuân Q1 đồng ý, Hoàng Văn N đưa cho Hoàng Xuân Q1 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, Hoàng Xuân Q1 nhận tiền bảo Hoàng Văn Ngôn đợi và bắt xe khách đi hướng đến thị trấn Đ mua 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng ma túy H1 với người đàn ông khoảng 40 tuổi và Hoàng Xuân Q1 được hưởng tiền công 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Khi mua được mua túy Hoàng Xuân Q1 quay lại ngã ba P, xã T, huyện V, Hoàng Văn N và Hoàng Xuân Q1 đi bộ đến chỗ nhau, Hoàng Xuân Q1 đưa cho Hoàng Văn N 01 (một) gói giấy màu trắng chứa các cục, chất ma túy H1, Hoàng Văn N nhận lấy gói ma túy để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long, cất vào trong túi quần đằng trước bên trái đang mặc trên người, đi bộ đến chỗ Mông Văn B và nói với Mông Văn B đã nhận được ma tuý từ Hoàng Xuân Q1. Sau đó, Mông Văn B chở Hoàng Văn N cùng ma túy đi về xã H, huyện V mục đích tìm nơi vắng để cùng nhau sử dụng. Khi Mông Văn B chở Hoàng Văn N về đến thôn V, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói giấy màu trắng chứa các cục, chất ma túy Heroin. Qua giám định là chất ma tuý Heroine, có tổng khối lượng 0,154 gam (đã trừ bì)”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Xuân Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B thực hiện hành vi có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Mông Văn B biết được bị cáo Hoàng Văn N đi mua ma túy, nhưng vẫn dùng phương tiện của mình cùng bị cáo Hoàng Văn N mua ma túy và chở bị cáo Hoàng Văn N cùng ma túy mang về mục đích cùng sử dụng, bị cáo Hoàng Văn N là người khởi xướng và là người trực tiếp đi hỏi đặt vấn đề với bị cáo Hoàng Xuân Q1 mua ma tuý, nên cần xử phạt bị cáo Hoàng Văn N với mức án nặng hơn bị cáo Mông Văn B.

[5] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo Hoàng Xuân Q1 đi mua ma túy về bán cho bị cáo Hoàng Văn N để được hưởng tiền công, là tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

[6] Về nhân thân bị cáo Hoàng Xuân Q1 đã từng bị kết án, theo bản án số 62/2008/HSST, ngày 04/12/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa án tích, nhưng không phải là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân bị cáo Hoàng Văn N đã có tiền sự, theo quyết định số 06/QĐ-TA ngày 10/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng đến ngày 28/4/2023 mới chấp hành xong (chưa được xóa), là người có nhân thân không tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân bị cáo Mông Văn B chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo không có tài sản gì, đều là người nghiện, gia đình bị cáo Mông Văn B thuộc diện cận nghèo, khó thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Đối với anh Mông Văn H cho bị cáo Mông Văn B mượn xe mô tô, nhưng anh Mông Văn H không biết bị cáo Mông Văn B sử dụng xe đi mua ma túy, nên không liên quan.

[11] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi bán ma túy cho Hoàng Xuân Q1 tại khu vực ngã ba đổi tiền thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Hoàng Xuân Q1 không biết họ, địa chỉ cụ thể của người ông trên, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không làm rõ được.

[12] Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, đen, cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 12V1-069.06. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là anh Mông Văn H, nên không xem xét giải quyết. Đối với số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy; đối với số tiền 100.000 đồng, là tiền do bị cáo Hoàng Xuân Q1 đi mua ma túy về bán cho bị cáo Hoàng Văn N mà có. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[13] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B tại phiên tòa, đề nghị các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 15 tháng đến 17 tháng; bị cáo Mông Văn B mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cũng phù hợp, nhưng đảm bảo tính răn đe, trấn áp phòng chống tội phạm. Hội xét xử sẽ xem xét và quyết định.

[15] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí hình sự cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B.

[16] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân Q1;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B.

Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất mua túy.
  2. Về hình phạt chính:
    1. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2024.
    3. Xử phạt bị cáo Mông Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2024.
  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì có chữ “QT Hoàng Văn N” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh H2, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,137 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói cũ; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.
    2. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

    (Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/8/2024).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Xuân Q1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn N, Mông Văn B.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
  • - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQ Thi hành án hình sự;
  • - Lưu VP- hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Xuân Q và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger