|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HNGĐ - ST Ngày 29/8/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Ngọc Đoàn
- Bà Nguyễn Thị Là
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 124/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Bị đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1995
Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt các đương sự)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà nguyên đơn anh Vũ Văn H1 trình bày: Anh và chị Lê Thị N kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/10/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn anh xin được ly hôn chị Lê Thị N.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị N có 02 con chung là Vũ Lê Nhã U, sinh ngày 16/7/2013; Vũ Lê Ngọc D, sinh ngày 23/3/2015. Ly hôn, anh xin được nuôi con Vũ Lê Ngọc D để chị N nuôi con Vũ Lê Nhã U. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Hiện anh là công nhân sửa chữa ô tô thu nhập bình quân 12.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị Lê Thị N là bị đơn trình bày: Chị và anh Vũ Văn H1 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/10/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn anh H1 xin ly hôn, chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Vũ Văn H1 có 02 con chung là Vũ Lê Nhã U, sinh ngày 16/7/2013; Vũ Lê Ngọc D, sinh ngày 23/3/2015. Ly hôn, chị xin được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Hiện chị làm may ở Công ty TNHH - có trụ sở tại cụm C, xã M, huyện Đ và có bán hàng quần áo thu nhập bình quân 15.000.000 đồng/tháng. Anh H1 là người bố sống có trách nhiệm với các con, yêu thương các con. Ông bà nội quan tâm và yêu thương các cháu. Nhưng cháu U và cháu D rất thân thiết với nhau nếu tách các cháu ra sợ ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu.
Về tài sản: Chị và anh H1 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - anh Vũ Văn H1, bị đơn chị Lê Thị N đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn H1: Xử cho anh H1 được ly hôn chị Lê Thị N. Về con chung: Đề nghị xử giao con chung Vũ Lê Ngọc D, sinh ngày 23/3/2015 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Vũ Lê Nhã U, sinh ngày 16/7/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Về tài sản chung, anh H1 và chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa anh H1 và chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị N có nơi thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh H1 kết hôn với chị N do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/10/2012 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau. Anh H1 xin ly hôn, chị N đồng ý ly hôn. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì quá trình chung sống anh H1 và chị N có mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh H1 xin ly hôn chị N đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H1 và chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà x cho anh H1 được ly hôn chị N là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Anh H1 và chị N có 02 con chung là Vũ Lê Nhã U, sinh ngày 16/7/2013; Vũ Lê Ngọc D, sinh ngày 23/3/2015. Ly hôn, anh H1 xin được nuôi con Vũ Lê Ngọc D để chị N nuôi con Vũ Lê Nhã U, chị N xin được nuôi cả hai con chung. Xét thấy, nguyện vọng xin được nuôi con của anh H1 và chị N là chính đáng, cả anh H1 và chị N đều có đủ điều kiện để nuôi dạy con tốt. Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị Toà án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật. Cháu U và cháu D có nguyện vọng được ở cùng bố mẹ. Vì vậy, cần giao con chung Vũ Lê Ngọc D cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng và giao con Vũ Lê Nhã U cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau là tự nguyện cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Anh H1 và chị N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa anh H1 và chị N.
[3]Về án phí: Anh H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Anh H1, chị N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn H1 được ly hôn chị Lê Thị N.
2. Về con chung: Xử giao con chung Vũ Lê Ngọc D, sinh ngày 23/3/2015 cho anh Vũ Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Vũ Lê Nhã U, sinh ngày 16/7/2013 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H1, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
4. Về án phí: Anh H1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh H1 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003262 ngày 18/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Anh H1, chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Lan Phương |
Bản án số 68/2024/HNGĐ - ST ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn H - N
