Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS-ST

Ngày: 29-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Trọng Kim và ông Nguyễn Thanh Bình.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch Diễm. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Trọng Toàn. Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh tỉnh Bình Thuận – Phòng giao dịch huyện Đức Linh.

Người được ủy quyền lại: Ông Tô Thanh T1, sinh năm 1994.

Chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh tỉnh Bình Thuận – Phòng giao dịch huyện Đức Linh.

Địa chỉ: Số 54, đường ĐT 766, thôn 4, xã Đức Hạnh, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1984;

Nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 7, thị trấn DT, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 7, thị trấn DT, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt người Đại diện hợp pháp của nguyên đơn; vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/8/2023, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Bình Thuận – phòng giao dịch Đức Linh đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với bà Nguyễn Hoàng M, với một số thông tin như sau:

Loại thẻ: VS payWave Cre Classic.

Hạn mức tín dụng: 150.000.000 đồng

Ngày chốt sao kê: ngày 5 hàng tháng

Dư nợ tính đến ngày khởi kiện 11/3/2024 là: 187.988.292đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà M nhiều lần không thanh toán đúng hạn theo như cam kết. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nhắc nợ và làm việc trực tiếp với bà M nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ.

Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 16/8/2023; yêu cầu chị Nguyễn Hoàng M và anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc và lãi là 187.988.292đồng và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 12/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua hình thức tống đạt trực tiếp cho mẹ của bà M và niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp ý kiến phản đối, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà:

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín rút lại yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 16/8/2023 và vẫn giữ nguyên yêu cầu vợ chồng bà M, ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền dư nợ và lãi tính đến ngày 29/7/2024 là 221.342.172đồng và yêu cầu bà M và ông T tiếp tục chịu lãi từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã T hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã T hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa T hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình chịy của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc chị M và ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ 172.264.320đồng, cùng với số tiền lãi hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng đã cam kết, kèm các chi phí phát sinh khác của Ngân hàng.

Về án phí: Buộc bà M và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

(có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn thanh toán tiền nợ vay và lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng; bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 3, khu phố 7, thị trấn DT, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp cần giải quyết theo vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng T tế thì khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thì thẻ tín dụng đã bị khóa, không T hiện được các giao dịch khác nên rút lại yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 16/8/2023. Nhận thấy, việc rút và thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và trong phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử 01 tóm tắt sao kê lập ngày 29/7/2024; ngoài ra, các đương sự không nộp tài liệu, chứng cứ mới nào khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa và Tòa án đã thu thập được theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[4] Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do các đương sự cung cấp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

[4.1] Về tính pháp lý của giao dịch dân sự:

Căn cứ vào bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín và bà Nguyễn Hoàng M thì có cơ sở xác định đây là hợp đồng tín dụng thanh toán qua hình thức cấp thẻ tín dụng (loại thẻ: VS payWave Cre Classic), lập thành văn bản, có thỏa thuận lãi suất vay và các thỏa thuận khác. Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; do đó, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín và bà Nguyễn Hoàng M đảm bảo các quy định tại Điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, nên được pháp luật dân sự bảo vệ.

Căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn T hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ và đúng quy định.

[4.2] Về xác định nghĩa vụ trả nợ vay:

Tại Điều 280 của Bộ luật dân sự quy định về T hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:

“1. Nghĩa vụ trả tiền phải được T hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Tại Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Nguyễn Hoàng M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình T (chồng bà M) có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền tổng dư nợ tính đến ngày 29/7/2024 là 221.342.172 đồng và yêu cầu trả số tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua hình thức tống đạt trực tiếp cho mẹ của bà M và niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp ý kiến phản đối, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại mục “Cam kết” trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 có thể hiện nội dung “....Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, Tôi/chúng tôi xác nhận rằng Tôi/Chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Sacombank. Điều khoản và Điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành Hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng giữa Tôi/Chúng tôi và Sacombank. Tôi/Chúng tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đền việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà Tôi/Chúng tôi đã được cấp.....”

Tại “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có hiệu lực từ ngày 24/8/2020)” do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phát hành và đã được cchị bố trên trang thông tin điện tử chính thức của Sacombank (https://www.sacombank.com.vn/ho-tro) có các quy định về các loại phí (mục 25), cách xác định lãi (kể cả lãi quá hạn) và trách nhiệm do vi phạm (mục 23 và 24), ngoài ra tại mục 17 của Điều khoản và điều kiện còn có quy định về “Vượt hạn mức”, kể cả phí do vượt hạn mức.

Bà Nguyễn Hoàng M tự nguyện ký kết vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín để được cấp tín dụng qua thẻ với số tiền 150.000.000đồng, nên bà M đã biết các Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Đối với Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết vào ngày 16/8/2023, sau khi rút số tiền được cấp tín dụng thì sau đó bà M đã nhiều lần T hiện các giao dịch thanh toán phí trễ hạn, lãi, phí cho Ngân hàng, đồng thời bà M lại tiếp tục T hiện giao dịch rút tiền trong thẻ được cấp tín dụng (theo tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp), từ ngày 05/10/2023 đến 05/01/2024 (3 kỳ liên tiếp) bà M không T hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận, như vậy bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được thỏa thuận trong hợp đồng và tại mục 24.4 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có hiệu lực từ ngày 24/8/2020), cho nên tổng số tiền dư nợ (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, các loại phí) của bà M tính đến ngày 05/01/2024 là 172.264.320đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền dư nợ tính đến ngày 05/01/2024 là 172.264.320đồng và các khoản lãi phát sinh đến ngày 29/7/2024 là 49.077.852đồng là có căn cứ, phù hợp với các điều khoản đã được giao kết và phù hợp với các quy định tại Điều 280, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.3] Về xác định người có nghĩa vụ thanh toán: Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023, bà Nguyễn Hoàng M đã kê khai tên chồng là Nguyễn Đình T để được cấp tín dụng; theo giấy trích lục kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn DT cung cấp và thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân do Công an thị trấn DT cung cấp thể hiện bà Nguyễn Hoàng M và ông Nguyễn Đình T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2010. Như vậy, khoản nợ mà bà M xác lập với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phát sinh trong thời kỳ hôn nhân với ông T, mục đích vay tiền của bị đơn là vay tiêu dùng, để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Tại khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như sau:

“1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ T hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.”

Tại khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:

“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng T hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;"

Tại Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng như sau:

“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên T hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Từ các quy định của pháp luật đã được viện dẫn nêu trên cho thấy: nguyên đơn yêu cầu bà M và ông T liên đới thanh toán số tiền tổng dư nợ đã được nhận định tại mục [4.2] của bản án này là hoàn toàn có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.4] Về lãi suất:

Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và tại Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính, hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản, theo đó lãi suất theo hợp đồng tín dụng không bị giới hạn bởi mức trần lãi suất cơ bản mà phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn phải trả lãi suất quá hạn trên toàn bộ dư nợ (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, các loại phí tính đến ngày 05/01/2024 với số tiền là 172.264.320đồng), cụ thể: số tiền lãi phát sinh trên số tiền tổng dư nợ 172.264.320đồng tính đến ngày 29/7/2024 là 49.077.852đồng. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 30/7/2024 đến khi trả xong toàn bộ các khoản nợ là phù hợp với các thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023, mục 1.9, mục 1.24 và mục 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có điều khoản về áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của Sacombank), đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính và Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Buộc bị đơn và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa (thể hiện qua bài phát biểu số 123/PB-VKS-DS, ngày 29/7/2024) phù hợp với những nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 93; Điều 95; khoản 2 Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 147; Điều 161, Điều 262; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 94, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 (được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao); Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với bà Nguyễn Hoàng M.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín.

    Buộc bà Nguyễn Hoàng M và ông Nguyễn Đình T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín tổng số tiền dư nợ của Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 tính đến 05/01/2024 là 172.264.320đồng (bằng chữ: Một trăm bảy mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm hai mươi đồng) và số tiền lãi tính đến ngày 29/7/2027 là 49.077.852đồng (bằng chữ: Bốn mươi chín triệu, không trăm bảy mươi bảy nghìn, tám trăm năm mươi hai đồng). Tổng cộng là: 221.342.172đồng (bằng chữ: Hai trăm hai mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi hai nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 16/8/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín và bà Nguyễn Hoàng M.

  3. Về án phí:

    Buộc bà Nguyễn Hoàng M và ông Nguyễn Đình T phải nộp số tiền 11.067.000 (bằng chữ: Mười một triệu, không trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

    - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín số tiền 4.699.000 (bằng chữ: Bốn triệu, sáu trăm chín mươi chín nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tiền số: 0004324 ngày 25 tháng 3 năm 2024.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được T hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Đức Linh;

- Chi cục THADS huyện Đức Linh;

- Lưu hồ sơ vụ án, tập án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 68/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger