|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày 27 – 10 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Minh.
- Ông Ngô Văn Khon.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn là Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn C(tên gọi khác: K, sinh năm 1988, tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H 1956 (chết) và bà Nguyễn Thị Mai P 1963 (chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 10/6/2023, bị tạm giam ngày 13/6/2023. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T6
- Người bị hại:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971.
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1977.
- Ông Trần Văn K, sinh năm 1973.
- Ông Trần Minh T2, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp Hạ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Minh S 1988.
- Ông Trương Thanh N 1989.
- ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Thápvắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp Trung, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Văn C1thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 01 giờ, ngày 22/5/2023, bị cáo C2bộ trên Quốc lộ C thuộc ấp B, xã A, huyện T máy biển số 66FK-4049, loại xe wave 50 màu xanh đen bạc, trên xe có để 10 cây lồng bằng trúc, dài khoảng 5m và 70 cây chổi lông gà, dài khoảng 40cm của ông Nguyễn Văn T3 trong sân nhà bà Võ Thị B1 bị bỏ hoang, ông T4ngủ trong một căn nhà tạm đối diện nơi ông T5xe cách khoảng 15m, trên xe gắn sẵn chìa khóa nên bị cáo C3trộm xe gắn máy cùng đồ vật trên xe trên rồi chạy đến khu vực thành phố H, tỉnh Đồng Thápgiao xe vừa trộm được cho một người đàn ông tên H1(không biết tên, địa chỉ cụ thể), nhờ Hlbán dùm. Đến sáng cùng ngày, bị cáo C2xe buýt về huyện T
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐ, ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tkết luận:
- 01 xe gắn máy biển số 66FK-4049, nhãn hiệu FERROLI, loại xe wave 50 màu xanh đen bạc, số khung UM8XB42994, số máy FMB 042994, đã qua sử dụng, giá trị 1.100.000 đồng.
- 10 cây lồng bằng trúc, dài khoảng 5m, giá trị 500.000 đồng.
- 70 cây chổi lông gà, dài khoảng 40 cm, giá trị 2.100.000 đồng.
Tổng giá trị định giá 3.700.000 đồng.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 01 giờ, ngày 29/5/2023, bị cáo C2bộ trên Quốc lộ C thuộc ấp N, xã A, huyện T thì phát hiện xe mô tô biển số 66F8-2813, nhãn hiệu DRUM, loại xe Dream Trung Quốc, màu nâu của ông Lê Văn T1 đang đậu trong sân nhà của ông T1trên xe gắn sẵn chìa khóa, bánh trước xe có khóa dây nhưng vẫn di chuyển được, bị cáo C4lấy trộm xe trên rồi chạy đến khu vực cầu P, huyện C máy, bị cáo C5bộ được khoảng 200m thì gặp một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) mua phế liệu từ trong khu vực đường hẻm bên trái chạy ra nên bị cáo C1bán xe mô tô trên cho người đàn ông với số tiền 600.000 đồng. Đến sáng cùng ngày, bị cáo C2xe buýt về huyện T
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐ, ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TXe mô tô biển số 66F8-2813, nhãn hiệu DRUM, loại xe Dream Trung Quốc, màu nâu, số khung DU100-200111402, số máy FMG1A-01025652, đã qua sử dụng, giá trị 1.200.000 đồng.
Vụ thứ 3: Vào khoảng 01 giờ, tháng 6/2023 (không rõ ngày), bị cáo C2bộ trên lộ nông thôn đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện T máy không biển số, nhãn hiệu T&T MOTOR, loại xe Wave màu xanh của ông Trần Văn K đang đậu cặp lề đường phía trước nhà ông Trần Văn Đ gắn sẵn chìa khóa nên C3trộm xe trên rồi mang đến tiệm sửa xe của ông Trương Thanh N 1989, cư trú ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Thápbán với giá 800.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐ, ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tkết luận: Xe gắn máy không biển số, nhãn hiệu T&T MOTOR, loại xe Wave màu xanh, số khung RRKCB5UMCXB02085, số máy VTT68YXIP39FMB002085, đã qua sử dụng. Giá trị 900.000 đồng.
Vụ thứ 4: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, bị cáo Cócà phê tại một quán nước giải khát đoạn Quốc lộ C cũ thuộc ấp B, xã A, huyện T MT2 điều khiển xe mô tô biển số 67L2-097.70 nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu trắng đen bạc, đội nón bảo hiểm màu cam chạy ngang qua rồi đậu xe cặp lề đường phía trước nhà ông Bùi Văn D bị cáo Cócà phê khoảng 50m, anh T2đi vào nhà ông D1ghi chỉ số đồng hồ điện, trên xe gắn sẵn chìa khóa, bị cáo C7anh T2không rút chìa khóa xe nên nảy sinh ý định lấy trộm, bị cáo C4đi bộ đến xe mô tô trên, thấy không có ai, chìa khóa đang gắn trên ổ khóa xe, trên xe có treo 01 nón bảo hiểm màu cam nên bị cáo C8xe mở khóa, đội nón bảo hiểm lên đầu, nổ máy xe rồi điều khiển đến nhà Lê Minh S1 mô tô trên cho ông S với giá 2.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐ, ngày 14/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T
- 01 xe mô tô biển số 67L2-097.70 nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu trắng đen bạc, số khung 3904HY058700, số máy JA39E0057861, đã qua sử dụng. Giá trị 10.000.000 đồng.
- 01 nón bảo hiểm NÓN SƠN màu cam đã qua sử dụng. Giá trị 40.000 đồng.
Tổng giá trị định giá 10.040.000 đồng.
Ngày 10/6/2023, Võ Văn C1 quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ và xử lý, gồm:
- 01 xe mô tô biển số 67L2-097.70 nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu trắng đen bạc, số khung 3904HY058700, số máy JA39E0057861, đã qua sử dụng.
- 01 giấy đăng ký xe mô tô số 082467, cấp ngày 20/8/2018 do C4(biển số xe 67L2-097.70).
- 01 giấy bán xe ngày 27/3/2021 của cửa hàng mua bán xe cũ Mỏng (ông Trương Văn M biển số 67L2-097.70 cho ông T4 MT2).
- 01 nón bảo hiểm NÓN SƠN màu cam đã qua sử dụng.
Hiện nay, các vật chứng nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T T2 xong.
- 01 xe gắn máy không biển số, nhãn hiệu T&T MOTOR, loại xe Wave màu xanh, số khung RRKCB5UMCXB02085, số máy VTT68YXIP39FMB002085, đã qua sử dụng. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T K xong.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo C bồi thường giá trị tài sản là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Ông Lê Văn T1 yêu cầu bị cáo C bồi thường giá trị tài sản là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
- Ông Trần Văn K1 cầu bị cáo C bồi thường.
- Ông Trần MT2 không yêu cầu bị cáo C10thường.
Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-TB ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình truy tố bị cáo Võ Văn C11tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên quyết định truy tố.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn C12tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn C2 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S1tháng tù.
- Bị hại Nguyễn Văn T trình bày: Ông Tócầu bị cáo C bồi thường số tiền là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Đối với trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo Võ Văn C thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất quan điểm kết tội của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng không oan sai nên không tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo Võ Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn C14nhận hành vi của mình như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 22/5/2023, bị cáo trộm xe gắn máy biển số 66FK-4049, loại xe wave 50 màu xanh đen bạc, 10 cây lồng bằng trúc, dài khoảng 5m và 70 cây chổi lông gà, dài khoảng 40cm của ông Nguyễn Văn T; khoảng 01 giờ ngày 29/5/2023, bị cáo trộm xe mô tô biển số 66F8-2813, nhãn hiệu DRUM, loại xe Dream Trung Quốc, màu nâu của ông Lê Văn T1; khoảng 01 giờ tháng 6/2023 (không rõ ngày), bị cáo trộm xe nhãn hiệu T&T MOTOR, loại xe Wave màu xanh của ông Trần Văn K; khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, bị cáo trộm xe mô tô biển số 67L2-097.70 nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu trắng đen bạc, nón bảo hiểm màu cam của ông T4 MT2.
Bị cáo C15nhất giá trị tài sản tại các Bản kết luận định giá tài sản số: 82/KL-HĐ, ngày 05/9/2023; Bản kết luận định giá tài sản số: 84/KL-HĐ, ngày 05/9/2023; Bản kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐ, ngày 06/9/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐ, ngày 14/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các bị hại. Bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, song vì sự tham lam, tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo nhận thấy được hậu quả những vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự.
Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Văn C3 yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Đối với ông Trương Thanh N1, ông Lê M1 S3mua xe từ bị cáo Cnhưng ông N ông S4biết xe do bị cáo C3trộm mà có. Quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh ông N3 S5hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự theo quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông tên H1và người đàn ông (không rõ họ tên) đã mua xe từ bị cáo C. Do bị can C không biết được họ tên, nơi cư trú, đồng thời, không có nguồn chứng cứ khác. Cho nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xác minh làm rõ.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn C
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ sức khỏe để lao động tạo nguồn thu nhập hợp pháp nuôi sống bản thân và gia đình nhưng vì bản chất lười lao động, mong muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và trở thành một công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần cho bị cáo C hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo C.
[5] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng khác đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng); ông Lê Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Xét thấy, ông T7T1bị thiệt hại về tài sản là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường. Vì vậy, ông T7T1yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền nêu trên là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
- Ông Trần Văn K2ông T5 MT2 không yêu cầu bị cáo C bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ chấp nhận.
[8] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện TViện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn C(Kphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Võ Văn C(K01 (Một) năm 06 (S1tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/6/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Võ Văn C(K3thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Võ Văn C(K3thường cho ông Lê Văn T1 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Văn C(Kphải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hồng Biên |
Bản án số 68/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 68/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Võ Văn C (K) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
