Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/KDTM -ST

Ngày: 26-10-2023

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Tấn Bình

+ Ông Nguyễn Đình Thọ

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2023/TLST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2023/QĐXXST-KDTM ngày 03 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 217/2023/QĐST-KDTM ngày 29/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2023/QĐST-KDTM ngày 19/9/2023 và Thông báo về việc dời ngày mở lại phiên tòa số 294/2023/TB-TA ngày 09/10/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1

Trụ sở: 2 N, phường H, Quận C, TP ..

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Bình Q - Trưởng Phòng G, là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S1 (Theo giấy ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022); địa chỉ: C đường C tháng C, TP., T. B; có mặt.

- Bị đơn: 1/Công ty TNHH Thương mại Tổng hợp D

Địa chỉ: Lô E đường L, P. T, TP ., tỉnh Bình Định; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh P - Giám đốc; Địa chỉ liên hệ: Lô B, đường T, P. T, TP Q, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T3: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985, địa chỉ: Xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/8/2023); có mặt.

2/ Chị Phạm Thụy Kiều T, sinh năm 1992

Địa chỉ: C B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Phạm Thụy Kiều T: Ông Hồ Ngọc H là Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư T4; Địa chỉ: Số B ngõ I phố V, phường K, Quận T, TP Hà Nội; vắng mặt.

3/Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1989

Địa chỉ: C B, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Địa chỉ liên hệ: 4 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T3; Địa chỉ: Lô E đường L, P. T, TP ., tỉnh Bình Định; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh P - Giám đốc; Địa chỉ liên hệ: Lô B, đường T, P. T, TP Q, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T3: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985, địa chỉ: Xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/8/2023); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 02 năm 2023 và đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Lê Bình Q trình bày:

- Đối với bị đơn Công ty TNHH T3:

Vào ngày 01/10/2018, Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh B - Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH T3 (gọi tắt là Công ty T3) đã ký Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021. Theo thỏa thuận, Ngân hàng cho Công ty TNHH T3 vay số tiền 15.000.000.000 đồng với mục đích để nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất lô 5+6+7, tờ bản đồ số 09, tại địa chỉ khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Thể hiện tại Giấy nhận nợ số 01 ngày 01/10/2018, số tiền nhận nợ 15.000.000.000 đồng, dư nợ hiện tại: 12.894.752.000 đồng; Thời hạn vay là 240 tháng; Phương thức trả nợ là trả góp vốn và lãi vào ngày 01 hàng tháng; Lãi suất theo hợp đồng tín dụng: lãi suất 03 tháng đầu tiên là 11,7%/năm. Tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 04 kể từ ngày ký hợp đồng này lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo mức lãi suất = (bằng) Lãi suất tiền gửi tiết kiệm 13 tháng VNĐ lãnh lãi cuối kỳ của S2 + (cộng) biên độ 3,9%/năm và được S2 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 3 tháng/lần và phù hợp với quy định của Ngân hàng N1 về lãi suất cho vay; Lãi suất hiện tại: 13,25%/năm.

Để bảo đảm cho việc trả nợ Hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty TNHH T3 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản sau: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu và được Sở xây dựng tỉnh B cấp Giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019 (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LD1827000116/HĐTC ngày 07/3/2019, Văn bản Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1827000116-1/HĐTC ngày 09/8/2019 và Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376A/HĐTC ngày 10/4/2021).

Hiện trạng tài sản thế chấp nêu trên được nâng cấp sửa chữa từ tầng 1 đến tầng 6 và 01 tầng tum mái (cũ) và có xây dựng mới 03 tầng từ tầng 8, tầng 9, tầng 10 và 01 tầng tum. Việc nâng cấp sửa chữa từ tầng 1 đến tầng 6 và 01 tầng tum mái (cũ) và xây dựng mới 03 tầng từ tầng 8, tầng 9, tầng 10 và 01 tầng tum của tài sản thế chấp nêu trên được Sở xây dựng tỉnh B có cấp phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019 công trình khách sạn cho Công ty TNHH T3, Công ty T3 có thông báo cho Ngân hàng biết.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty T3 thường xuyên thanh toán lãi vay trễ hạn. Tính từ ngày vay đến ngày 31/5/2022 Công ty T3 đã trả gốc và lãi được 8.082.552.524 đồng (trong đó tiền gốc trả được 2.105.248.000 đồng, tiền lãi trả được 5.977.304.524 đồng). Từ 01/6/2022 Công ty T3 không thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với Công ty T3 nhưng Công ty T3 không hợp tác nên không thống nhất được phương án trả nợ cũng như xử lý tài sản để thanh toán nợ vay.

Đến ngày 11/07/2022, toàn bộ khoản vay của Công ty T3 đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 25/10/2023, Công ty T3 còn nợ của Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 15.070.653.973 đồng ( Trong đó: nợ vốn gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng).

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu Tòa: Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng ( Trong đó: nợ gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741 đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng) và trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021. Trong trường hợp Công ty T3 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo các hợp đồng thế chấp mà Công ty TNHH T3 đã thế chấp để thu hồi nợ.

- Đối với bị đơn chị Nguyễn Thụy Kiều T1 và anh Nguyễn Trường S:

Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh B- Phòng G có cho vợ chồng chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S vay số tiền 4.100.000.000đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ một trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày

10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021. Vợ chồng bà Phạm Thụy Kiều T và ông Nguyễn Trường S đang có dư nợ vay thể hiện theo giấy nhận nợ cụ thể như sau: Giấy nhận nợ số LD2207300521 ngày 14/03/2022: số tiền nhận nợ 4.100.000.000 đồng, dư nợ hiện tại: 4.100.000.000 đồng; Ngày trả gốc: 14/09/2022; Ngày trả lãi: ngày 10 hàng tháng; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán hàng nông sản; Phương thức trả nợ: trả lãi hàng tháng vốn trả cuối kỳ; Lãi suất: 9,5%/năm

Để bảo đảm cho việc trả nợ của Hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty TNHH T3 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản sau: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu và được Sở xây dựng tỉnh B cấp Giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019 (Theo Hợp đồng thế chấp số LD2004100376/HĐTC ngày 10/02/2020 và các Văn bản Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD2004100376-01/HĐTC ngày 10/07/2020, số LD2004100376-02/HĐTC ngày 05/10/2020, số LD2004100376-03/HĐTC ngày 10/04/2021) và Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376A/HĐTC ngày 10/4/2021).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, chị T anh S thường xuyên thanh toán lãi vay trễ hạn. Đến ngày 21/7/2022 toàn bộ khoản vay của vợ chồng chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với chị T anh S nhưng chị T anh S không hợp tác nên không thống nhất được phương án trả nợ cũng như xử lý tài sản để thanh toán nợ vay.

Tính đến ngày 25/10/2023, vợ chồng chị T anh S còn nợ của Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng).

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu Tòa: Buộc chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, nợ lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/3/2021,

04/LD2004100376 ngày 10/04/2021. Trong trường hợp chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S không trả nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm mà Công ty TNHH T3 đã thế chấp để thu hồi nợ.

Tại bản khai ngày 27/4/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty TNHH T3, chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Công ty TNHH T3 thống nhất như lời trình bày của phía đại điện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 về quá trình ký kết các hợp đồng tín dụng, nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, số tiền vay, số tiền đã trả và số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn còn nợ như nguyên đơn trình bày là đúng. Công ty TNHH T3 thừa nhận còn nợ của Ngân hàng TMCP S1 với tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng).

Để bảo đảm trả nợ cho các Hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty TNHH T3 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản sau: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, Thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LD1827000116/HĐTC ngày 07/3/2019, Văn bản Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1827000116-1/HĐTC ngày 09/8/2019 và Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376A/HĐTC ngày 10/4/2021).

Hiện trạng tài sản thế chấp nêu trên được nâng cấp sửa chữa từ tầng 1 đến tầng 6 và 01 tầng tum mái (cũ) và có xây dựng mới 03 tầng từ tầng 8, tầng 9, tầng 10 và 01 tầng tum. Việc nâng cấp sửa chữa từ tầng 1 đến tầng 6 và 01 tầng tum mái (cũ) và xây dựng mới 03 tầng từ tầng 8, tầng 9, tầng 10 và 01 tầng tum của tài sản thế chấp nêu trên được Sở xây dựng tỉnh B có cấp phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019 công trình khách sạn cho Công ty TNHH T3, Công ty T3 có thông báo cho Nguyên đơn biết. Nguồn tiền nâng cấp sửa chữa và xây dựng mới là của Công ty T3.

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký, Công ty T3 đồng ý trả số tiền trên nhưng hiện nay Công ty T3 gặp khó khăn không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Công ty T3 đồng ý yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm mà Công ty TNHH T3 đã thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty T3 không trả được nợ.

Bị đơn chị Phạm Thụy Kiều T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trường S là vợ chồng. Chị thống nhất như lời trình bày của phía đại điện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 về quá trình ký kết các hợp đồng tín dụng, nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, số tiền vay, số tiền đã trả và số tiền gốc, lãi, lãi phạt quá hạn vợ chồng chị còn nợ như nguyên đơn trình bày là đúng. Chị thống nhất hiện nay vợ chồng chị còn nợ của Ngân hàng TMCP S1 với tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng), vợ chồng chị đồng ý trả nợ số tiền trên nhưng hiện nay vợ chồng chị không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng.

Về tài sản thế chấp nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng chị theo Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021 chị thống nhất như đại diện Nguyên đơn và đại diện Công ty T3 trình bày là đúng. Nguồn tiền nâng cấp sửa chữa và xây dựng mới là của Công ty T3.

Vợ chồng chị đồng ý yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm mà Công ty TNHH T3 đã thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp vợ chồng chị không trả được nợ, chị không có ý kiến gì thêm.

Bị đơn anh Nguyễn Trường S: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Trường S đến Tòa để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên xét xử nhưng anh S vẫn không đến Tòa để làm việc, do đó Tòa không lấy được lời khai của anh Nguyễn Trường S.

Tại bản khai ngày 27/4/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T3, chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7 đường L, Phường T, TP Q, tỉnh Bình Định, tờ bản đồ số: 09 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH T3 và do Công ty TNHH T3 đứng tên sỡ hữu, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019.

Để bảo đảm cho việc trả nợ của chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S theo Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020,

02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021, Công ty TNHH T3 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7 Lê Đức T2, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sỡ hữu (Theo Hợp đồng thế chấp số LD2004100376/HĐTC ngày 10/02/2020 và các Văn bản Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD2004100376-01/HĐTC ngày 10/07/2020, số LD2004100376-02/HĐTC ngày 05/10/2020, số LD2004100376-03/HĐTC ngày 10/04/2021) và Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376A/HĐTC ngày 10/4/2021).

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, trong trường hợp chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S không trả nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, Công ty TNHH T3 đồng ý yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm mà Công ty TNHH T3 đã thế chấp để thu hồi nợ, Công ty T3 không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 299, 323, 317, 319, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Điều 206 Luật doanh nghiệp: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1.

  1. Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ vốn gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
  2. Buộc chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết.

Trường hợp Công ty T3 và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7 đường L, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu theo các hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Trường S, luật sư Hồ Ngọc H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Phạm Thụy Kiều T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về yêu cầu Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ (của Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021) tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng) và trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021:

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 và bị đơn Công ty TNHH T3 đều thống nhất xác nhận giữa Ngân hàng TMCP S1 và Công ty TNHH T3 có giao dịch vay vốn và có ký Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021, với tổng số tiền vay là 15.000.000.000 đồng. Hai bên đều thống nhất tính từ ngày vay đến ngày 31/5/2022 Công ty T3 đã trả gốc và lãi được 8.082.552.524 đồng (trong đó tiền gốc trả được 2.105.248.000 đồng, tiền lãi trả được 5.977.304.524 đồng), hiện Công ty T3 còn nợ tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ vốn gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng). Căn cứ theo qui định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án công nhận các hợp đồng vay nêu trên giữa các đương sự là có thật và hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S1- Chi nhánh B- Phòng G và Công ty TNHH T3 là hợp đồng tín dụng có kỳ hạn và có lãi. Sau khi vay, quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán, Công ty TNHH T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đòi nợ yêu cầu Công ty TNHH T3 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng Công ty TNHH T3 đã không trả. Như vậy Công ty TNHH T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng mà hai bên thỏa thuận, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S1 buộc Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25 /10/2023 là 15.070.653.973 đồng (Trong đó: nợ vốn gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

[2.2] Về yêu cầu chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết:

Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 và bị đơn chị Phạm Thụy Kiều T đều thống nhất các nhận giữa Ngân hàng TMCP S1- Chi nhánh B- Phòng G và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S có giao dịch vay vốn và có ký Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021 với tổng số tiền vay là 4.100.000.000 đồng. Hai bên đều thống nhất tính đến ngày 25/10/2023 vợ chồng chị T anh S còn nợ của Ngân hàng là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng). Căn cứ theo qui định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án công nhận các hợp đồng vay nêu trên giữa các đương sự là có thật và hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S1- Chi nhánh B- Phòng G và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S là hợp đồng tín dụng có kỳ hạn và có lãi. Sau khi vay, quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán, chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đòi nợ yêu cầu chị T và anh S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng chị T, anh S đã không trả. Như vậy chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S1 buộc chị T anh S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/10/2023 đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.

[2.3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP S1 trong trường hợp Công ty TNHH T3, chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S không trả nợ hoặc trả không đầy đủ:

Hội đồng xét xử xét: Tài sản thế chấp nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH T3 theo hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021 và bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S theo Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa

thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021 là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7 đường L, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu và được Sở xây dựng tỉnh B cấp Giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019, đều được hai bên xác lập hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B bảo đảm tuân thủ đúng quy định Điều 117, 317, 319 của Bộ luật dân sự. Do vậy việc Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp nêu trên để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty TNHH T3 và chị Phạm Thụy Kiều T anh Nguyễn Trường S không trả nợ hoặc trả không đầy đủ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật quy định tại các Điều 292, 298, 299, 301, 317, 319, 320, 323 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi Công ty TNHH T3 và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S trả xong nợ, Ngân hàng TMCP S1 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH T3 các giấy tờ liên quan đến các tài sản thế chấp.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4000.000 đồng, Ngân hàng TMCP S1 đã nộp tạm ứng trước. Theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự Cơng ty TNHH T3 và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S phải chịu nên Cơng ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 2.000.000 đồng, chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 2.000.000 đồng.

[4] Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty TNHH T3 phải chịu 123.071.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải chịu 112.827.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 117, 292, 298, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1.

  1. Buộc Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 15.070.653.973 đồng (trong đó: nợ gốc là 12.894.752.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.143.984.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 16.255.741đồng, lãi chậm trả là 15.662.156 đồng).

    Kể từ ngày 26/10/2023, Công ty TNHH T3 còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD1827000116 ngày 01/10/2018 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/LD1827000116 ngày 09/08/2019, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 02/LD1827000116 ngày 20/04/2021 cho đến khi trả hết nợ .

  2. Buộc chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến 25/10/2023 là 4.827.318.452 đồng (Trong đó: nợ gốc là 4.100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.362.721 đồng, lãi quá hạn 649.878.082 đồng, lãi chậm trả là 8.077.649 đồng).

    Kể từ ngày 26/10/2023, chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD2004100376 ngày 10/02/2020 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 01/LD2004100376 ngày 10/07/2020, 02/LD2004100376 ngày 05/10/2020, 03/LD2004100376 ngày 16/03/2021, 04/LD2004100376 ngày 10/04/2021.

  3. Trong trường hợp Công ty TNHH T3 và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể gồm: Quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số: Lô 5+6+7 đường L, tờ bản đồ số: 09, địa chỉ: Khu Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CT08709 ngày 08/08/2019 do Công ty TNHH T3 đứng tên sở hữu và được Sở xây dựng tỉnh B cấp Giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình số 34/GPSC ngày 09/5/2019 (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LD1827000116/HĐTC ngày 07/3/2019 và Văn bản Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1827000116-1/HĐTC ngày 09/8/2019; Hợp đồng thế chấp số LD2004100376/HĐTC ngày 10/02/2020 và các Văn bản

Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376-01/HĐTC ngày 10/07/2020, số LD2004100376-02/HĐTC ngày 05/10/2020, số LD2004100376-03/HĐTC ngày 10/4/2021 và Hợp đồng thế chấp tài sản số LD2004100376A/HĐTC ngày 10/4/2021).

Trong trường hợp Công ty TNHH T3 và chị Phạm Thụy Kiều T, anh Nguyễn Trường S trả xong nợ thì Ngân hàng TMCP S1 có nghĩa vụ trả lại cho Công ty TNHH T3 giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.

  1. Về chi phí tố tụng và án phí:
    1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản:
      • - Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 2.000.000 đồng.
      • - Chị Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 2.000.000 đồng.
    2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
      1. Công ty TNHH T3 phải chịu 123.071.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
      2. Phạm Thụy Kiều T và anh Nguyễn Trường S phải chịu 112.827.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
      3. Ngân hàng TMCP S1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 60.955.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003315 ngày 20 tháng 02 năm 2023 và 56.215.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003429 ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Tp.Quy Nhơn.
  2. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:

    5.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    5.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - VKSND thành phố Quy Nhơn
  • - Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn
  • - Các đương sự
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2023/KDTM -ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 68/2023/KDTM -ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger