Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 26 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Lê Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lý – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1990; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn K, sinh năm 1965; con bà Đậu Thị T1, sinh năm 1972; có vợ Phạm Thị V, sinh năm 1980; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/4/2008 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 200.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 22/4/2008; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay - có mặt.
  2. Trần Văn T2 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1968; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/10; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn T3, đã chết; con bà Chu Thị L, sinh năm 1937; có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/4/2024 đến ngày 26/4/2024 bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T2: Bà Hoàng Thị H1 – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt và gửi bản bào chữa cho bị cáo Trần Văn T2).

Địa chỉ: K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

  1. Trương Đắc T4 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1970, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; giới tính: Nam; con ông Trương Đắc T5, đã chết; con bà Nguyễn Thị T6, đã chết; có vợ Ngô Thị T7, sinh năm 1969; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/4/2024 đến ngày 27/4/2024 bị áp dụng lệnh đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - có mặt.

- Bị hại: Công ty cổ phần D1.

Địa chỉ trụ sở: A8-TT18, Khu T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn L1 – Chức vụ : Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc – Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Hồng K1, sinh năm 1979 – Có mặt.

Địa chỉ: P - Chung cư A, đường N, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

  1. Công ty Cổ phần Đ2.

Địa chỉ trụ sở: Số D, đường số A, Khu đô thị N, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Chu Minh Đ – Chức vụ: Tổng Giám đốc – Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Sỹ Đ1, sinh năm 1978 – Chức vụ: Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư tài chính MD37 – có mặt.

Địa chỉ: Số D, đường số A, Khu đô thị N, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

  1. Anh Đào Đình S, sinh năm 1992 – Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  1. Anh Phạm Văn T8, sinh năm 1983 – Có mặt.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi tạm trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  1. Ngô Thị T7, sinh năm 1969 – Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  1. Nguyễn Thị T9, sinh năm 1963 – có mặt.

Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  1. Chị Trần Thị L2, sinh năm 1992 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2023 đến ngày 24/01/2024, Trần Văn T2 được Công ty D1 ký hợp đồng nhân công làm bảo vệ công trường tại bãi tập kết vật tư, vật liệu, máy móc và thiết bị thi công của Công còn Trần Văn T được công thuê làm công nhân hợp đồng thời vụ lắp đặt tấm lưới chắn gia súc đến ngày 07/2/2024 thì chấm dứt công việc. Trong quá trình thi công, ngày 16/4/2024, Công ty D1 phát hiện bị mất trộm 68 tấm lưới chắn gia súc và 07 ống thép mã kẽm nên đã làm đơn trình báo Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Quá trình xác minh nguồn tin, Cơ quan điều tra xác định Trần Văn T2, Trần Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp các tấm lưới chắn gia súc và các ống thép mã kẽm, sau đó bán cho Trương Đắc T4. Sau khi biết công trình báo sự việc, Trần Văn T2 tự nguyện đưa 12 tấm lưới chắn gia súc bằng kim loại mã kẽm, dạng hình chữ nhật, kích thước (1,5x2,73)m mà T2 đã lấy trộm đến gần khu vực tập kết vật liệu xây dựng đường cao tốc để trả lại cho công DOLACO nhưng khi anh Nguyễn Hồng K1 kiểm tra thì phát hiện chỉ có 06 tấm lưới chắn gia súc và đã giao nộp cho Công an xã Q. Ngày 16/4/2024, Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ tại khu vực tập kết phế liệu của anh Phạm Văn T8 (thuộc thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) gồm 39 tấm lưới chắn gia súc mà Trương Đắc T4 đã gửi trước đó. Ngày 17/4/2024, Công an xã Q phát hiện và thu giữ 13 tấm lưới chắn gia súc tại mương nước thuộc cánh đồng cách mép đường phía Bắc cao tốc Bắc Nam nên đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q. Đến ngày 17/4/2024 và ngày 18/4/2024 Trần Văn T2, Trần Văn T và Trương Đắc T4 lần lượt đến Công an huyện Q để đầu thú.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q xác định trong khoảng thời gian từ tháng 2/2024 đến tháng 4/2024, Trần Văn T, Trần Văn T2 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp được tài sản thì Trần Văn T đã nhiều lần bán các tấm lưới chắn gia súc cho Trương Đắc T4. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 04/2/2024, Trần Văn T2 đi đến bãi tập kết vật liệu của Công ty D1 (thuộc thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) gặp Trần Văn T và nói “xin vài tấm” thì Trần T “Cho ăn Thanh đồng ý. Đến khoảng 12 giờ ngày 07/2/2024, Trần Văn T2 sử dụng xe máy nhãn hiệu Wave anpha, màu đen bạc, biển kiểm soát 37L2-179.41 kéo theo xe kiến an đi đến khu vực tập kết vật liệu của Công ty cổ phần D1 dưới chân cầu vượt cao tốc Bắc Nam lấy trộm 06 tấm lưới chắn gia súc có rồi đưa về nhà cất giấu.

Lần thứ hai: Vào sáng ngày 08/02/2024, Trần Văn T đến nhà Trần Văn T2 để mua thịt trâu. Tại đây, Trần Văn T hỏi Trần Văn T2 “Chú có mua nữa không cháu bán cho 06 tấm với giá một triệu” (tức là T sẽ đi lấy trộm 06 tấm lưới chắn gia súc để bán cho T2) thì T2 đáp: “Có, mi để cho chú bảy trăm” thì Trần Văn T đồng ý và được Trần Văn T2 trừ vào tiền bán thịt trâu là 700.000 đồng. Đến trưa ngày 24/02/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh đen bạc, Biển kiểm soát 37L2-315.21 đi đến bãi tập kết vật tư của Công ty D1. Tại đây, Trần Văn T thấy có một chiếc xe kiến an của công nhân dùng làm xe chở vật tư hàng ngày nên T lấy trộm 06 tấm lưới chắn gia súc rồi để chiếc xe kiến an này và dùng xe máy kéo về cất dấu tại khu vực ngõ H thuộc thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An rồi báo cho T2 biết. Đến sáng ngày 25/02/2024, Trần Văn T2 điều khiển xe máy Biển kiểm soát 37L2-179.41 kéo theo xe kiến an đi đến khu vực ngõ H lấy 06 tấm lưới chắn gia súc mà T bán cho T2 theo thỏa thuận rồi đưa về nhà cất giấu cùng với 06 tấm lưới chắn gia súc mà T2 đã trộm trước đó.

Lần thứ ba: Khoảng cuối tháng 2 năm 2024, Trần Văn T2 đi đến bãi tập kết vật tư làm đường cao tốc Bắc Nam của Công ty D1 ở phía Bắc cầu vượt đường cao tốc giao nhau với đường Quốc lộ 48B lấy trộm 07 ống thép mã kẽm giống nhau rồi đem về khu vực nhà bếp của chị Trần Thị L2 để cất giấu.

Lần thứ tư: Khoảng 09 giờ, ngày 16/02/2024, Trần Văn T một mình điều khiển xe máy Biển kiểm soát 37L2-315.21 đến nhà Trương Đắc T4 và hỏi “Ông T4 có mua sắt không?” thì T4 trả lời “Chú làm nghề thu mua sắt vụn, không mua sắt thì mua chi” thì T nói “Tí nữa cháu chở xuống” và được Trương Đắc T4 đồng ý. Sau đó, Trần Văn T gọi điện cho anh Đào Đình S để thuê anh S chở hàng thì anh S đang bận nên Trần Văn T đi lên bãi tập kết vật liệu của công ty D1 ở dưới gầm cầu vượt (thuộc thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) và lấy trộm 07 tấm lưới chắn gia súc rồi đưa về ngõ nhà bà Nguyễn Thị T9 để gửi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì anh Đào Đình S gọi điện lại cho Trần Văn T để hỏi chở hàng gì thì Trần Văn T chỉ dẫn anh S điều khiển xe ô tô đi đến khu vực tập kết vật tư dưới gầm cầu vượt cao tốc. Tại đây, T một mình lấy trộm thêm 07 tấm lưới chắn gia súc lên xe ô tô rồi nói anh S điều khiển xe ô tô đi đến ngõ nhà bà Nguyễn Thị T9 để chở thêm 07 tấm lưới chắn gia súc mà T lấy trộm trước đó. Sau đó, T chỉ dẫn cho anh S điều khiển xe ô tô chở 14 tấm lưới chắn gia súc đến nhà Trương Đắc T4 để bán cho T4. Sau khi T4 kiểm tra thấy các tấm lưới chắn gia súc của đường cao tốc thì biết là tài sản do Trần Văn T trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 8000 đồng/kg để bán lại kiếm lời. Sau đó, Trương Đắc T4 chỉ dẫn cho Trần Văn TĐào Đình S chở 14 tấm lưới chắn gia súc này đến bãi phế liệu của anh Phạm Văn T8 (sinh năm 1983, trú tại thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) rồi chỉ vị trí cất giấu. Sau đó, Trần Văn T trả tiền công chở hàng cho anh Đào Đình S số tiền 500.000 đồng. Sau khi Trần Văn T bán cho Trương Đắc T4 14 tấm lưới chắn này thì T sử dụng tài khoản zalo “Công ty T10” của mình gửi tin nhắn thoại đến ứng dụng zalo “Thao Trương” của Trương Đắc T4 với nội dung “Cây đó tủ cho kín đừng có trưng bày ra ngoài là khổ đó nha, cất đặt cho lân thân đừng có để ra ngoài đó”. Lúc này, Trương Đắc T4 đã biết rõ tài sản này do Trần Văn T trộm cắp của công ty D1 nhưng vẫn đồng ý mua với tổng số tiền là 4.480.000 đồng. Số tiền này Trần Văn T đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ năm: Sáng ngày 27/02/2024, Trần Văn T gọi điện cho Trương Đắc T4 để hỏi T4 “Cháu còn 14 tấm lưới như hôm trước muốn bán chú có mua không” thì Trương Đắc T4 biết rõ đây là tài sản do Trần Văn T trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua. Sau đó, Trần Văn T gọi điện cho anh Đào Đình S để thuê anh S chở hàng. Khi anh S điều khiển xe ô tô đi đến cầu vượt cao tốc thì T chỉ dẫn anh S điều khiển xe ô tô đi đến vị trí cạnh gầm cầu vượt rồi Trần Văn T lấy trộm 14 tấm lưới chắn gia súc để vào thùng xe ô tô. Sau khi lấy trộm xong, T nói anh S điều khiển xe ô tô đi đến khu vực tập kết phế liệu của anh Phạm Văn T8. Tại đây, Trương Đắc T4 đã chờ trước và cùng T cất dấu 14 tấm lưới chắn gia súc ở vị trí cùng với 14 tấm lưới chắn mà T4 đã mua lần trước đó rồi dùng bạt phủ kín lại. Sau đó, Trần Văn T trả cho anh S số tiền công là 500.000 đồng, còn Trương Đắc T4 trả cho Trần Văn T tổng số tiền là 4.480.000 đồng. Số tiền này Trần Văn T đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ sáu: Khoảng đầu tháng 4/2024, Trần Văn T tiếp tục gọi điện cho Trương Đắc T4 nói “Cháu có 12 tấm lưới nữa ông xuống xem rồi trả tiền luôn” thì T4 biết T đã trộm các tấm lưới này nhưng vẫn đồng ý mua và nói “Cháu chở xuống bãi thu mua phế liệu hôm trước rồi chú xuống”. Sau đó, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 37L2-315.21 đi đến vị trí tập kết vật tư của công DOLACO dưới chân cầu vượt B rồi tiếp tục lấy trộm 12 tấm lưới chắn gia súc và để lên chiếc xe kéo của công trình chở số tấm lưới chắn gia súc này về khu vực tập kết phế liệu của anh Phạm Văn T8. Sau đó, Trương Đắc T4 xếp 12 tấm lưới chắn này vào 01 thùng xe ô tô phế liệu rồi dùng bạt phủ kín lại và trả cho T số tiền 3.840.000 đồng. Số tiền này Trần Văn T đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi Trương Đắc T4 mua 40 tấm lưới chắn gia súc của Trần Văn T thì T4 có trao đổi với anh Phạm Văn T8 để bán lại cho anh T8 28 tấm lưới chắn. Sau khi anh T8 kiểm tra thấy các tấm lưới chắn còn mới nên Phạm Văn T8 nói với T4 “Sắt này không phải đồ ăn trộm chú bán cháu mới mua” thì Trương Đắc T4 nói “Sắt này thủ kho, bảo vệ thừa nó bán, chú lo gì”. Sau đó, anh Phạm Văn T8 đồng ý mua của T4 28 tấm lưới chắn với giá 12.000 đồng/kg nhưng chưa thanh toán tiền.

Kết luận định giá tài sản số 293/KL- HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Q kết luận:

  • 01 tấm lưới chắn gia súc theo bản vẽ thiết kế kích thước (1,5 x 2,73)m, lưới B40 kích thước (0,4 x 6,3 x 6,3)cm, có giá trị là 1.380.000 đồng.
  • 27 tấm lưới chắn gia súc theo bản vẽ thiết kế kích thước (1,5 x 2,73)m, lưới B40 kích thước (0,4 x 6,3 x 6,3)cm, có giá trị là 37.260.000 đồng.
  • 12 tấm lưới chắn gia súc theo bản vẽ thiết kế kích thước (1,5 x 2,73)m, lưới B40 kích thước (0,4 x 6,3 x 6,3)cm, có giá trị là 16.560.000 đồng.
  • 06 tấm lưới chắn gia súc theo bản vẽ thiết kế kích thước (1,5 x 2,73)m, lưới B40 kích thước (0,4 x 6,3 x 6,3)cm, chưa qua sử dụng, có giá trị là 8.280.000 đồng.
  • 13 tấm lưới chắn gia súc theo bản vẽ thiết kế kích thước (1,5 x 2,73)m, lưới B40 kích thước (0,4 x 6,3 x 6,3)cm, có giá trị là 17.940.000 đồng.
  • 07 ống thép mã kẽm, dài 06m, đường kính 8,8cm có giá trị là 5.510.909 đồng.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội và số tiền mà Trần Văn T, Trần Văn T2 và Trương Đắc T4 phải chịu trách nhiệm hình sự là:

Trần Văn T đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần thứ nhất lấy 06 tấm lưới với số tiền 8.280.000 đồng; Lần thứ hai lấy 14 tấm lưới với số tiền 19.320.000 đồng; Lần thứ ba lấy 14 tấm lưới với số tiền 19.320.000 đồng và lần thứ tư lấy 12 tấm lưới với số tiền 16.560.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T đã chiếm đoạt là 63.480.000 đồng. Sau khi lấy trộm các tấm lưới chắn gia súc, T đã 03 lần bán cho T4 với số tiền 12.800.000 đồng, 01 lần bán cho T2 với số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T đã thu lợi bất chính là 13.500.000 đồng.

Trần Văn T2 đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần thứ nhất lấy 06 tấm lưới với số tiền 8.280.000 đồng; Lần thứ hai mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng hứa hẹn với T về việc T sẽ lấy trộm 06 tấm lưới chắn gia súc để bán cho T2 nên Thân đồng phạm với Trần Văn T và chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 8.280.000 đồng; Lần thứ ba Thân lấy trộm 07 ống thép mã kẽm với tổng số tiền 5.510.909 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T2 đã chiếm đoạt là 22.070.909 đồng.

Trương Đắc T4 mặc dù biết rõ các tấm lưới chắn gia súc mà Trần Văn T bán cho T4 là do trộm cắp mà có nhưng T4 đã 03 lần thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do T trộm cắp mà có, cụ thể: Lần thứ nhất T4 đã mua của T 14 tấm lưới với số tiền 19.320.000 đồng; Lần thứ hai T4 mua của T 14 tấm lưới với số tiền 19.320.000 đồng và lần thứ ba mua của T 12 tấm lưới với số tiền 16.560.000 đồng. Tổng số tiền Trương Đắc T4 phải chịu trách nhiệm hình sự là 55.200.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 76/CT-VKS-QL ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trương Đắc T4 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trần Văn T từ 24 đến 27 tháng tù; không phạt tiền bổ sung.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn T2.

Xử phạt Trần Văn T2 từ 22 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trương Đắc T4 từ 22 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe tự chế (xe kiến an) mà bị cáo T2 sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại cho chị Trần Thị L2 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu wave An pha, Biển kiểm soát 37L2-179.41.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu Wave An pha màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 37L2-315.21.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu realme, màu xanh gắn thẻ sim có số thuê bao 0363459540 và 0344405781 thu của Trần Văn T và 01 điện thoại nhãn hiệu realme, gắn thẻ sim số 0973149019 thu của Trương Đắc T4.
  • - Truy thu và buộc bị cáo Trần Văn T nộp lại số tiền 13.500.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Trần Văn T, Trương Đắc T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T2.

Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T2 như sau: Theo quan điểm của tôi bị cáo Trần Văn T2 có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được thể hiện sau khi phạm tội cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã nhận biết được hành vi phạm tội của mình, đã khai báo trung thực và đầy đủ, các lời khai của các lần khai đều thống nhất để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có hoàn cảnh sống khó khăn, trình độ văn hoá 0/10 từ nhỏ đến lớn không được học hành và không biết chữ nên phần nào hạn chế nhận thức pháp luật hạn chế. Do cuộc sống khăn, thiếu thốn nên nhất thời, bột phát thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, nhất thời phạm tội và có nơi cư trú rõ ràng.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS để áp dụng mức hình phạt cho bị cáo T2 ở mức 22 tháng cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn giảm án phí nên áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ.UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự cho bị cáo T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp về thời gian, địa điểm và đặc điểm tài sản bị mất của bị hại. Sự phù hợp, thống nhất của các chứng cứ nêu trên, có cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 2/2024 đến tháng 4/2024, tại khu vực tập kết vật liệu xây dựng đường C thuộc thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Trần Văn TTrần Văn T2 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm các tấm lưới chắn gia súc và ống thép mã kẽm của Công DOLACO. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Trần Văn T đã bán các tấm lưới chắn gia súc cho Trương Đắc T4, cụ thể như sau:

  • - Trần Văn T đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền đã chiếm đoạt và phải chịu trách nhiệm hình sự là 63.480.000 đồng. Sau khi lấy trộm các tấm lưới chắn gia súc, Trần Văn T đã 03 lần bán cho Trương Đắc T4 với số tiền 12.800.000 đồng, 01 lần bán cho Trần Văn T2 với số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T thu lợi bất chính là 13.500.000 đồng.
  • - Trần Văn T2 đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền đã chiếm đoạt và phải chịu trách nhiệm hình sự là 22.070.909 đồng.
  • - Trương Đắc T4 mặc dù biết rõ các tấm lưới chắn gia súc mà Trần Văn T bán cho T4 là do trộm cắp mà có nhưng đã 03 lần thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do T trộm cắp mà có nên phải chịu trách nhiệm hình sự là 55.200.000 đồng.

Hành vi bị cáo Trần Văn T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi bị cáo Trần Văn T2 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi bị cáo Trương Đắc T4 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 2 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú. Bị cáo Trương Đắc T4 có mẹ đẻ là Nguyễn Thị T6 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo Trần Văn T có ông ngoại là Đậu Đức S1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trần Văn TTrần Văn T2. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2Trương Đắc T4 được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức; gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đã cố ý thực hiện.

Đối với bị cáo Trần Văn T là người thực hiện hành vi phạm tội nhiều nhất (06 lần lấy trộm tài sản) phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 63.480.000 đồng; Sau khi lấy trộm mang đi bán để thu lợi bất chính tổng số tiền là 13.500.000 đồng. Bị cáo nhân thân xấu đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không coi đó là bài học để rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn và bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn T nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Đối với bị cáo Trần Văn T2 là người 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (trong đó 01 lần đồng phạm với Trần Văn T, 02 lần trực tiếp lấy trộm tài sản) tổng giá trị tài sản phải chịu trách nhiệm hình sự là 22.070.909 đồng. Trương Đắc T4 mặc dù biết rõ các tấm lưới chắn gia súc mà T bán là do trộm cắp mà có nhưng đã 03 lần tiêu thụ tài sản nên phải chịu trách nhiệm hình sự là 55.200.000 đồng. Hiện nay số tấm sắt mà bị cáo T2 lấy trộm và T4 tiêu thụ đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội hai bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội; luôn chấp hành đầy đủ chủ trương, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương. Cả hai bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo tại địa phương sửa chữa khắc phục sai lầm của mình để trở thành công dân tốt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ nghiêm minh và không ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm. Thời gian mà các bị cáo bị tạm giữ được quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ và được trừ vào thời gian cải tạo không giam giữ mà bị cáo phải chấp hành (Bị cáo Trần Văn T2 bị tạm giữ từ ngày 17/4/2024 đến ngày 26/4/2024, bị cáo Trương Đắc T4 bị tạm giữ từ ngày 18/4/2024 đến ngày 27/4/2024). Cả hai đều bị cáo bị tạm giữ thời gian là 09 ngày bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo Thân thuộc hộ cận nghèo, bị cáo T4 có hoàn cảnh khó khăn, vợ ốm đau nên không khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với hai bị cáo.

[4] Đối với anh Đào Đình S là người được Trần Văn T thuê chở các tấm lưới chắn gia súc nhưng không được Trần Văn T bàn bạc trước và anh S không biết đây là tài sản do T trộm cắp nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với anh Phạm Văn T8 là người đã cho Trương Đắc T4 gửi các tấm lưới chắn gia súc và đã mua 28 tấm lưới chắn gia súc của T nhưng anh T8 không biết nguồn gốc các tấm lưới chắn này do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với bà Nguyễn Thị T9 là người đã cho Trần Văn T gửi nhờ các tấm lưới chắn gia súc tại ngõ nhà mình nhưng bà T9 không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với 13 tấm lưới chắn gia súc mà Công an xã Q đã phát hiện và thu giữ vào ngày 17/4/2024 và giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Q. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Công ty cổ phần D1, trong quá trình thi công làm rào chắn gia súc tại đường cao tốc thì công nhân đã để lại chứ không phải do trộm cắp mà có nên đã trả lại cho chủ sở hữu là Công DOLACO.

[5] Về vật chứng:

Đối với 58 tấm lưới chắn gia súc và 07 ống thép mã kẽm được thu hồi trả lại cho bị hại Công DOLACO và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Đối với 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu Wave An Pha, biển kiểm soát 37L2-179.41 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị L2 nhưng chị L2 không biết bị cáo T2 sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho chị L2.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 37L2-315.21 là tài sản hợp pháp của Trần Văn T nhưng T đã bán ngày 16/6/2023 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D (thuộc Công ty Cổ phần đầu tư tài chính MD 37; sau đó Công ty cổ phần Đ3 ký hợp đồng cho bị cáo T thuê lại để làm phương tiện đi lại. Do đó cần trả lại cho Trần Văn T để T thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thuê xe ngày 16/6/2023 với Công ty cổ phần Đ3.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Realme, gắn thẻ sim có số thuê bao 0363459540 và 0344405781 thu của Trần Văn T; 01 điện thoại nhãn hiệu Realme, gắn thẻ sim có số thuê bao 0973149019, thu của Trương Đắc T4. Đây là 02 điện thoại mà các bị cáo T và T4 sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 13.500.000 (mười ba triệu năm trăm đồng) mà bị cáo Trần Văn T thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên truy thu và buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T, Trương Đắc T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn T2 thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58, 38 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn T.

Xử phạt Trần Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/4/2024; không phạt tiền bổ sung.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58, 36 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn T2.

Xử phạt Trần Văn T2 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” được trừ 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 23 (Hai mươi ba) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ; không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trương Đắc T4 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được trừ 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 23 (hai mươi ba) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ; không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của Trần Văn T2, Trương Đắc T4 được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện Q, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.

Giao Trần Văn T2, Trương Đắc T4 cho chính quyền UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Trả lại cho chị Trần Thị L2 01 xe máy nhãn hiệu wave An Pha, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 37L2-179.41; trả lại cho Trần Văn T 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu wave An Pha màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 37L2-315.21; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu realme, gắn thẻ sim có số thuê bao 0363459540 và 0344405781 thu của Trần Văn T và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme, gắn thẻ sim có số thuê bao 0973149019 thu của Trương Đắc T4; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe kéo tự chế (xe kiến an) thu giữ của Trần Văn T2 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 28/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).
  • - Truy thu và buộc bị cáo Trần Văn T nộp lại số tiền 13.500.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính mà có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  1. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Văn T, Trương Đắc T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 12, 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T2.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND h. Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan điều tra h. Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự h. Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Quỳnh Mỹ (để biết);
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn T và ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger