|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2022/HS-ST Ngày: 25-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoàn
2. Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Nhà văn hóa xóm T4, xã V huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 19/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 07/8/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hứa Thị V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/02/1966; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hứa Văn T, sinh năm 1938, con bà: Lương Thị L, đã chết; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có chồng là: Vương Văn T1, đã chết; Con: có 01 con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 145/HSST ngày 23/7/2004 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 09/9/2013; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T2, tên gọi khác: Không ; sinh ngày 22/12/1991; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn L1, đã chết, con bà: Dương Thị M, sinh năm 1965; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ là: Trần Thị D, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự:
Không; Nhân thân: Tại bản án số 55/HSST ngày 10/8/2012 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 74/HSST ngày 27/9/2013 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chuyển 12 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 55/HSST ngày 10/8/2012 thành tù giam, tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 bản án là 09 năm tù, chấp hành xong bản án ngày 09/02/2020; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người chứng kiến:
-
Anh Đoàn Thế C, sinh năm 1978 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
-
Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1968 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
-
Anh Trương Văn Q, sinh năm 1976 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã H, huyện Đ phát hiện Nguyễn Văn T2 đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, tổ công tác yêu cầu T2 dừng lại để kiểm tra. Tiệp chấp hành, khai nhận mình là người nghiện ma túy và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ trong lòng bàn tay trái của T2 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (T2 khai nhận là Heroine của T2). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định. Qua xác minh, T2 khai mua số Heroine trên của một người phụ nữ tên Hứa Thị V, sinh năm 1966, trú tại xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào khoảng 20 giờ cùng ngày với giá 400.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T2 tại xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hứa Thị V tại xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện thu giữ: 02 gói nhỏ bằng túi nilon màu trắng bên trong cả 02 gói đều có chứa chất bột màu trắng, nghi là H tại túi quần phía trước bên trái V đang mặc; 01 cân tiểu ly có vỏ bằng gỗ dài 29cm tại chuồng gà nhà V; 25 túi nilon màu trắng bên trong không có gì, cùng kích thước
và chiều dài là 05cm, rộng 03cm tại kho chứa đồ nhà V; số tiền 1.050.000 đồng trên giường trong phòng ngủ của V. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hứa Thị V.
Ngày 11/4/2023 tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của T2 là 0,155g (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi đi làm mẫu giám định).
Cân xác định khối lượng 02 gói nhỏ, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng thu giữ của V là 3,236g (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi đi làm mẫu giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 602/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì niêm phong ký hiệu A1 thu giữ của T2 là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng là: 0,155 gam. Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì niêm phong ký hiệu A2 thu giữ của V là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng là: 3,236 gam.Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn T2 khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy đã nhiều lần mua Heroine của Hứa Thị V để bản thân sử dụng; cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/4/2023, T2 một mình đi bộ từ nhà đến nhà Hứa Thị V với mục đích mua H để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T2 gặp V ở trong bếp và hỏi mua được của V 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong T2 đã sử dụng hết.
Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 09/4/2023, T2 tiếp tục đến nhà Hứa Thị V để mua Heroine về sử dụng, gặp V ở trong bếp, T2 hỏi mua của V 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong T2 đã sử dụng hết.
Lần 3: Khoảng 20 giờ ngày 10/4/2023, T2 một mình đi bộ từ nhà đến nhà Hứa Thị V để mua Heroine. Đến nơi, thấy V đang ở dưới bếp, T2 hỏi mua được 01 gói Heroine của V với giá 400.000 đồng. Sau đó, T2 cầm gói Heroin vừa mua ở trong lòng bàn tay trái của T2 rồi đi bộ về đến đoạn đường thuộc xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Hứa Thị V đều khai thừa nhận có được nhiều lần bán Heroine cho Nguyễn Văn T2 như T2 khai là đúng. Về nguồn gốc số Heroine bán cho T2 là do V mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu G, thành phố T với giá 3.000.000 đồng vào ngày 06/4/2023.
Vật chứng vụ án: 05 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1, A2, LK, LK1, KX1; 01 cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ dài 29cm, đã qua sử dụng; Số tiền 1.050.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKSĐH, ngày 19/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hứa Thị V về tội “Mua bán trái phép
chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hứa Thị V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 đến 11 năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 05 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1, A2, LK, LK1, KX1; 01 cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ dài 29cm, đã qua sử dụng.
Đối với số tiền 1.050.000 đồng thu giữ của bị cáo Hứa Thị V: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 800.000 đồng do bán ma túy mà có; tạm giữ số tiền 250.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Hứa Thị V và Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, tại khu vực xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn T2 đang có hành vi tàng trữ 0,155 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ số Heroine trên. Về nguồn gốc số Heroine trên là do T2 mua của Hứa Thị V, sinh năm 1966, trú tại xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào khoảng 20 giờ cùng ngày với giá 400.000 đồng mục đích để sử dụng cho
bản thân. Ngoài ra, T2 còn nhiều lần mua ma túy của V để sử dụng cho bản thân; cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/4/2023, T2 một mình đi bộ từ nhà đến nhà Hứa Thị V với mục đích mua H để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T2 gặp V ở trong bếp và hỏi mua được của V 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong T2 đã sử dụng hết.
Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 09/4/2023, T2 tiếp tục đến nhà Hứa Thị V để mua Heroine về sử dụng, gặp V ở trong bếp, T2 hỏi mua của V 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong T2 đã sử dụng hết.
Cùng ngày 10/4/2023, tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hứa Thị V tại xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện thu giữ 3,236 gam Heroine và một số vật chứng có liên quan. Về nguồn gốc số Heroine bán cho T2 là do V mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với giá 3.000.000 đồng vào ngày 06/4/2023.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; sơ đồ hiện trường; lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ; bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Hứa Thị V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)...
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,....”
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển .... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a)....;
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,....”.
[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Đối với bị cáo Hứa Thị V được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, năm 2004 đã bị xét xử về cùng loại tội nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy đã nhiều lần bị xét xử về cùng loại tội và tội phạm khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo Hứa Thị V mua bán ma túy mục đích để kiếm lời, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà Nước.
Bị cáo Nguyễn Văn T2 tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời, mặt khác bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức
độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Vật chứng của vụ án:
Đối với 05 phong bì niêm phong kí hiệu A1, A2, LK, LK1, KX1 (bên trong có chứa vỏ bì và số chất ma túy còn lại sau giám định); 01 cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ dài 29cm, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.050.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của bị cáo Hứa Thị V. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được có 800.000 đồng là tiền do mua bán ma túy cho Nguyễn Văn T2 trong các ngày 08, 09 và 10/4/2023 mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số còn lại 250.000 đồng không liên quan đến tội phạm nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[8]. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo Hứa Thị V khai đã mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu G, thành phố T để bán lại cho bị cáo Nguyễn Văn T2; do không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố:
- Bị cáo Hứa Thị V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Hứa Thị
V 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Hứa Thị V 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T2 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 05 (Năm) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu: A1, A2, LK, LK1, KX1.
- + 01 (Một) cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ dài 29cm, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Tạm giữ số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nahf nước Việt Nam để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Hứa Thị V.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hứa Thị V và Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 68/2022/HS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Hứa Thị V 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Hứa Thị V 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T2 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
